CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Cở sở lý luận của đề tài 1. Mục tiêu giáo dục của Việt Nam hiện nay Mục tiêu giáo dục là nhằm phát triển toàn diện con người Việt Nam có đạo đức, tri thức, văn hóa, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp; có phẩm chất, năng lực và ý thức công dân; có lòng yêu nước, tinh thần dân tộc, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; phát huy tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ tổ quốc và hội nhập quốc tế [13]. Để đáp ứng mục tiêu đó chương trình Giáo dục phổ thông được xây dựng trên quan điểm coi giáo dục phổ thông là giáo dục con người toàn diện.
Đồng thời phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Phát triển giáo dục gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, tiến bộ khoa học, công nghệ, củng cố quốc phòng, an ninh; thực hiện chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa; bảo đảm cân đối về cơ cấu trình độ, cơ cấu ngành nghề, cơ cấu vùng miền; mở rộng quy mô trên cơ sở bảo đảm chất lượng và hiệu quả; kết hợp giữa đào tạo và sử dụng. Một vài ví dụ về nghiên cứu năng lực của học sinh trên thế giới và Việt Nam Năm 2001 F. Weinert (OECD) đã đưa ra năng lực của học sinh là sự kết hợp hợp lí kiến thức, kĩ năng và sự sẵn sàng tham gia để cá nhân hành động có trách nhiệm và biết phê phán tích cực, hướng tới giải pháp cho các vấn đề.
Các nghiên cứu của Howard Gardner đã phân tích 8 lĩnh vực trí năng của con người, đó là ngôn ngữ, logic toán học, âm nhạc, không gian, vận động cơ thể, giao tiếp, tự nhận thức, hướng tới thiên nhiên để dẫn đến khái 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com niệm năng lực. Trên cơ sở đó chương trình giáo dục phổ thông được thiết kế theo hướng tiếp cận năng lực gồm năng lực chung (general competence) và năng lực chuyên biệt (subject - specific compentene). Hội đồng Giáo dục Châu Âu (các nước OECD), đưa ra khung NL cho HS phổ thông gồm: NL liên môn ( khả năng học các nội dung môn học có kiến thức liên môn); NL linh hoạt sáng tạo (khả năng học cách thức làm việc có phương pháp học, làm việc hiệu quả); NL sử dụng máy móc một cách thông minh; NL xã hội (khả năng giao tiếp, ứng xử); NL cá nhân. Bộ giáo dục các nước Canađa, Newzeland, Indonexia,.
cũng làm rõ khái niệm NL học sinh và xác định hệ thống các NL cần phát triển ở HS. Ở Việt Nam (tháng 12 năm 2018) Bộ Giáo dục và Đào tạo đã xác định: Chương trình giáo dục phổ thông cần hình thành và phát triển cho học sinh những NL chủ yếu sau: Năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo. Những năng lực đặc thù được hình thành và phát triển thông qua các môn học và hoạt động giáo dục nhất định như: năng lực ngôn ngữ, năng lực tính toán, năng lực khoa học, năng lực công nghệ, năng lực tin học, năng lực thẩm mỹ, năng lực thể chất [5] Như vậy, các tài liệu trong và ngoài nước đều khẳng định tầm quan trọng của việc phát triển NL cho HS trong giáo dục phổ thông, xác định khung NL cần phát triển cho HS trong đó năng lực giải quyết vấn đề (NLGQVĐ) là NL chung quan trọng cần phát triển cho HS ở mọi cấp học và môn học. Dựa trên các nguyên tắc cơ bản, để nghiên cứu về phát triển NLGQVĐ của học sinh trong mối quan hệ giữa bài tập và lý thuyết chương “Cơ sở của nhiệt động lực học” cho học sinh THPT, đó cũng là mục tiêu của luận văn này.
Tìm hiểu năng lực và phân loại năng lực trong dạy học 1. Một số khái niệm về năng lực Có rất nhiều ý kiến khác nhau về khái niệm “Năng lực”, tuy nhiên đa số 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com các ý kiến đều cho rằng năng lực được cấu tạo từ các thành tố phức tạp, do các tố chất và hoạt động của con người tương tác mà tạo thành. + Trên thế giới: - Hội nghị chuyên đề về năng lực cơ bản của Hội đồng Châu Âu (OECD) đã đưa ra kết luận về khái niệm NL của HS trong quá trình học tập các môn học, đó là sự tổng hòa của bốn năng lực: “NL chuyên môn, NL phương pháp, NL xã hội và NL cá thể” [20]. - Nhà tâm lý học người Pháp Dennyse Tremblay cho rằng “NL là khả năng hành động đạt được thành công và chứng minh sự tiến bộ nhờ vào khả năng huy động và sử dụng hiệu quả nhiều nguồn lực tích hợp của cá nhân khi giải quyết vấn đề của cuộc sống” [21].
- Giáo sư tâm lí học Howard Gardner của đại học Harvard (Mỹ) đã phân tích 8 lĩnh vực trí năng của con người, theo ông để giải quyết một vấn đề (problem) trong cuộc sống thì con người cần phải có sự kết hợp các mặt trí năng liên quan với nhau, sự kết hợp này tạo nên năng lực cá nhân. Quan điểm về năng lực của H. Gardner đã có sự thống nhất với nhiều tác giả trên nghiên cứu về NL đó là sự tổ hợp các kiến thức, kĩ năng, thái độ và được thể hiện thông qua hoạt động có kết quả và có thể đánh giá hoặc đo đạc được [8]. - Bộ Giáo Dục Canađa trong chương trình giáo dục trung học Quenbec đã đưa ra: Năng lực có thể định nghĩa như là một khả năng hành động hiệu quả bằng sự cố gắng dựa trên nhiều nguồn lực.
Những khả năng này được sử dụng một cách phù hợp, bao gồm tất cả những gì học được từ nhà trường cũng như những kinh nghiệm của HS; những kĩ năng thái độ và sự hứng thú; ngoài ra còn có các nguồn bên ngoài chẳng hạn như bạn cùng lớp, thầy cô giáo, các chuyên gia hoặc các nguồn thông tin khác [16]. - Quan niệm trong cải cách giáo dục ở Inđonexia cho rằng: Năng lực (compentence) là những kiến thức (knowleglge), kĩ năng (skills) và các giá trị 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com (values) được phản ánh trong thói quen suy nghĩ và hành động của mỗi cá nhân. Thói quen tư duy và hành động kiên trì, liên tục có thể giúp một người trở nên có NL với ý nghĩa làm một việc gì đó trên cơ sở có kiến thức, kĩ năng và các giá trị cơ bản [14]. + Ở Việt Nam - Trong từ điển Tiếng Việt khái niệm NL được xác định là “Khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó, phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao” [12].
- Dự thảo chương trình Giáo dục phổ thông của Bộ Giáo dục và Đào tạo đã xác định: “Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kỹ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí.thực hiện thành công một loại hoạt động xác định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể"[5]. Tóm lại có thể hiểu một cách tổng quát: NL là sự kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức, các nguồn lực kiến thức, kĩ năng, thái độ được huy động để đảm bảo hoạt động có hiệu quả trong bối cảnh, tình huống nhất định. Cho dù cách biểu đạt có khác nhau, nhưng cách hiểu về khái niệm NL đều chứa đựng nội dung chủ yếu đó là yếu tố cơ bản, thiết yếu mà bất kỳ ai cũng cần phải có để sống, học tập và làm việc hiệu quả. Phân loại năng lực Trên thế giới tùy theo khu vực, quốc gia có những phân loai khác nhau về năng lực, nhưng nhìn chung có thể phân NL thành năng lực chung và năng lực đặc thù.
Theo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể (Ban hành kèm theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26 tháng 12 năm 2018 của Bộ trưởng 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Bộ Giáo dục và Đào tạo) thì chương trình cần hình thành cho học sinh những năng lực cốt lõi sau: Sơ đồ 1. Phân loại năng lực Phân loại năng lực Năng lực chung Năng lực chuyên biệt Được hình thành, phát triển Những năng lực đặc thù thông qua tất cả các môn học và (chuyên biệt) được hình thành, hoạt động giáo dục: năng lực tự chủ phát triển chủ yếu thông qua một và tự học, năng lực giao tiếp và hợp số môn học và hoạt động giáo dục tác, năng lực giải quyết vấn đề và nhất định: năng lực ngôn ngữ, sáng tạo; năng lực tính toán, năng lực khoa học, năng lực công nghệ, năng lực tin học, năng lực thẩm mĩ, năng lực thể chất. Mối quan hệ giữa năng lực chung và năng lực chuyên biệt - Năng lực chung là cơ sở của năng lực chuyên biệt, nếu năng lực chung càng phát triển thì càng dễ dàng đạt được năng lực chuyên môn. - Năng lực chuyên môn phát triển thì trong những điều kiện nhất định lại có ảnh hưởng tích cực đối với năng lực chung.
- Trên thực tế muốn có kết quả tốt trong một lĩnh vực nào đó thì năng lực chung phải phát triển ở một trình độ cần thiết và có năng lực chuyên môn tương ứng với công việc của mình. Những năng lực này không phải là bẩm sinh, mà nó có được do sự phát triển giáo dục, bồi dưỡng của con người. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Năng lực giải quyết vấn đề của học sinh trong học tập Vật lí 1.
Khái niệm vấn đề, giải quyết vấn đề và năng lực giải quyết vấn đề trong học tập môn Vật lí Theo từ điển Tiếng Việt [12], vấn đề là điều cần được xem xét, nghiên cứu giải quyết.Lecne: “Vấn đề là một câu hỏi nảy ra hay được đặt ra cho chủ thể, mà chủ thể chưa biết lời giải từ trước và phải tìm tòi sáng tạo lời giải, nhưng chủ thể đã có sẵn một số phương tiện ban đầu để sử dụng thích hợp vào việc tìm tòi nó” [11]. Vấn đề có nhiều loại từ đơn giản đến phức tạp, ngoài ra vấn đề còn tồn tại trong các tình huống, bối cảnh khác nhau.