Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KẾT HÔN VÀ CHUNG SỐNG NHƯ VỢ CHỒNG MÀ KHÔNG ĐĂNG KÝ KẾT HÔN 1. Khái niệm kết hôn và đăng ký kết hôn 1. Khái niệm kết hôn Ph.Ăngghen đã chỉ ra rằng HN&GĐ là những hiện tượng phát sinh trong quá trình phát triển của xã hội loài người, chịu sự tác động của các điều kiện kinh tế - xã hội. Do vậy, sự phát triển của xã hội loài người gắn liền với quá trình phát sinh, thay đổi những hình thái HN&GĐ.
Nhận thức rõ vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng của gia đình đối với sự phát triển của cá nhân và xã hội, nên ngay từ khi ra đời và trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, cũng như trong thời kỳ đổi mới, Đảng và Nhà nước ta đã chú trọng tới việc xây dựng gia đình hạnh phúc và bền vững, đề ra chủ trương, chính sách cho việc thực hiện những quan hệ HN&GĐ tiến bộ, phù hợp với xu thế phát triển tất yếu của xã hội loài người. Điều này được thể hiện qua những nguyên tắc cơ bản về HN&GĐ được quy định trong các văn bản luật, trực tiếp là Luật HN&GĐ. Nhà nước thông qua các quy định của pháp luật để điều chỉnh, tác động lên quan hệ HN&GĐ. Mà trước tiên phải kể đến là vấn đề kết hôn – sự kiện pháp lý quan trọng để tạo nên một gia đình.
Theo từ điển Tiếng Việt định nghĩa: “Kết hôn là việc nam, nữ chính thức lấy nhau thành vợ, chồng” [51, tr. Theo truyền thống của người Việt Nam, nam và nữ được coi là vợ chồng là khi hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo nghi thức truyền thống. Điều 3 Luật HN&GĐ năm 2014 quy định “Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của Luật này về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn”. Theo đó, việc kết hôn phải đáp ứng đủ các điều kiện kết hôn quy định tại Điều 8 Luật HN&GĐ năm 2014 và phải được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo trình tự và thủ tục do luật định.
7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Điều kiện kết hôn Điều kiện kết hôn là một trong những nội dung quan trọng của luật HN&GĐ được quy định tại Điều 8 Luật HN&GĐ năm 2014. Theo đó, để hôn nhân có giá trị pháp lý thì các nam, nữ khi kết hôn phải thỏa mãn các yếu tố sau đây: Nam, nữ phải đủ tuổi kết hôn Điểm a khoản 1 Điều 8 Luật HN&GĐ năm 2014 quy định: “Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên” Xuất phát từ cơ sở khoa học về tâm lý lứa tuổi, sức khỏe của người Việt Nam, pháp luật quy định nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên mới được kết hôn nhằm đảm bảo sự phát triển về thể chất và trí tuệ để con cái sinh ra được khỏe mạnh, hơn nữa quy định độ tuổi tối thiểu tạo điều kiện cho việc xây dựng gia đình hạnh phúc. Luật HN&GĐ năm 2014 đã nâng độ tuổi kết hôn của nam thành đủ 20 tuổi trở lên, nữ đủ 18 tuổi trở lên thay vì nam vừa bước qua tuổi 20 và nữ vừa bước qua tuổi 18 như quy định tại Luật HN&GĐ năm 2000. Sự thay đổi này nhằm đảm bảo tính thống nhất với các văn bản pháp luật khác có liên quan.
Cụ thể, theo quy định của BLDS năm 2005 thì người thành niên là người từ đủ 18 tuổi trở lên; Bộ luật Tố tụng dân sự cũng quy định người đủ 18 tuổi trở lên mới đủ tư cách tham gia tố tụng dân sự. Do đó, nếu theo quy định của Luật HN&GĐ năm 2000 nữ không bắt buộc phải đủ 18 tuổi có quyền kết hôn thì khi đó cũng phát sinh quyền được tự do ly hôn. Dẫn tới tình trạng, quyền ly hôn của họ không thể thực hiện nếu thời điểm có yêu cầu ly hôn họ chưa đủ 18 tuổi. Do vậy, việc nâng độ tuổi kết hôn như quy định của Luật HN&GĐ năm 2014 là bảo đảm được quyền lợi của đương sự cũng như đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất trong hệ thống pháp luật của nước ta.
8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Việc kết hôn phải có sự tự nguyện của hai bên nam, nữ Kết hôn là một quyền tự nhiên của con người được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013, do đó không thể có hôn nhân ngoài ý muốn của người kết hôn. Quyền kết hôn, hôn nhân tự nguyện và bình đẳng là một nguyên tắc điều chỉnh quan hệ HN&GĐ từ những ngày đầu thành lập đất nước. Điều này có thể thấy trong các quy định của Luật HN&GĐ. Luật HN&GĐ năm 1959 quy định tại Điều 1: “Nhà nước bảo đảm việc thực hiện đầy đủ chế độ hôn nhân tự do và tiến bộ, một vợ một chồng, nam nữ bình đẳng, bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và con cái, nhằm xây dựng những gia đình hạnh phúc, dân chủ và hoà thuận, trong đó mọi người đoàn kết, thương yêu nhau, giúp đỡ nhau tiến bộ” ; Luật HN&GĐ năm 1986 quy định tại Điều 1: “Nhà nước bảo đảm thực sự chế độ hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng nhằm xây dựng gia đình dân chủ, hòa thuận, hạnh phúc, bền vững”; Trong Luật HN&GĐ năm 2000, nguyên tắc này được thể hiện cụ thể và rõ ràng tại khoản 1 Điều 2: “Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng”; Luật HN&GĐ năm 2014 hôn nhân tự nguyện được thể hiện trong khoản 1 Điều 2: “Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng” và quy định tại khoản 2 Điều 5: cấm kết hôn giả tạo, ly hôn giả tạo, tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn, yêu sách của cải trong kết hôn,.
Điểm b Khoản 1 Điều 8 quy định: “Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định” Quyền kết hôn không chỉ được quy định trong Luật HN&GĐ mà còn được quy định tại Điều 39 BLDS năm 2005 cũng quy định: “Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình có quyền tự do kết hôn” 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tự nguyện quyết định trong việc kết hôn được ghi nhận trong rất nhiều các văn bản pháp luật, cho thấy đây là một yếu tố quan trọng trong việc xác lập quan hệ vợ chồng. Thật vậy, gia đình không chỉ thực hiện những chức năng riêng của mình đối với mỗi thành viên trong gia đình, mà còn làm nền móng cho sự vận động và phát triển của xã hội. Tự nguyện hoàn toàn trong việc kết hôn là hai bên nam, nữ tự mình quyết định việc kết hôn và thể hiện ý chí mong muốn trở thành vợ chồng của nhau, cùng nhau gắn bó và chung sống suốt đời. Mỗi bên nam, nữ không bị tác động bởi bất cứ điều gì làm ảnh hưởng tới quyết định của mình.
Pháp luật đảm bảo cho việc kết hôn hoàn toàn tự nguyện bằng việc quy định những người muốn kết hôn phải cùng có mặt tại cơ quan đăng ký kết hôn, nộp tờ khai đăng ký kết hôn, tự mình bày tỏ mong muốn được kết hôn, pháp luật không cho phép cử người đại diện trong việc đăng ký kết hôn. Đồng thời, pháp luật còn có các chế tài xử phạt đối với trường hợp cưỡng ép, lừa dối kết hôn còn bị xử phạt về hành chính thậm chí có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Nam, nữ kết hôn với nhau không bị mất năng lực hành vi dân sự Để đảm bảo sự tự nguyện trong việc kết hôn, hai bên nam, nữ được quyền tự do thể hiện ý chí và tình cảm của mình, do vậy, đối với những người bị mắc bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình thì khó có thể biết đâu là sự tự nguyện thực sự, đâu là không và bản thân họ cũng không thể nhận thức hết được trách nhiệm làm cha, làm mẹ của mình và trách nhiệm đối với gia đình, đối với xã hội. Những người này bị Tòa án tuyên bố là mất năng lực hành vi dân sự thì theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 họ không có năng lực tố tụng dân sự; do đó mọi giao dịch của người mất năng lực hành vi dân sự đều phải thông qua người đại diện của họ.
Tuy nhiên, quyền kết hôn là quyền nhân thân không thể để cho người khác đại diện được. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tuy nhiên, quy định này chưa thực sự chặt chẽ bởi lẽ bản thân người bị mất năng lực hành vi dân sự không thể tự mình yêu cầu Tòa án tuyên bố mình bị mất năng lực hành vi dân sự, còn với người thân của họ thì trên thực tế không ai lại đi yêu cầu Tòa án tuyên người thân mình bị mất năng lực hành vi dân sự, nhất là đối với những người làm cha làm mẹ. Mặt khác, biểu hiện của người bị mất năng lực hành vi dân sự rất đa dạng, có lúc bệnh phát tác, có lúc lại như người bình thường, nên việc xem xét người đó có bị mất năng lực hành vi hay không bằng mắt thường là điều rất khó. Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn theo quy định của pháp luật Điểm d khoản 1 Điều 8 Luật HN&GĐ năm 2014 quy định “Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn theo quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 5 của Luật này”.
Theo đó, việc kết hôn của nam và nữ không thuộc một trong các trường hợp sau: - Kết hôn giả tạo; “Kết hôn giả tạo là việc lợi dụng kết hôn để xuất cảnh, nhập cảnh, cư trú, nhập quốc tịch Việt Nam, quốc tịch nước ngoài; hưởng chế độ ưu đãi của Nhà nước hoặc để đạt được mục đích khác mà không nhằm mục đích xây dựng gia đình” [40, khoản 11, Điều 3]. Mục đích của việc kết hôn là xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc, các thành viên trong gia đình yêu thương, quan tâm, giúp đỡ lẫn nhau, phát huy được những giá trị đạo đức và truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta, tạo điều kiện để xã hội phát triển tốt đẹp hơn. Kết hôn giả tạo dẫn đến mục đích của hôn nhân không đạt được, nhiều trường hợp các bên lợi dụng việc kết hôn để nhằm vào mục đích khác như để nhập quốc tịch vào nước ngoài, nhập hộ khẩu vào thành phố, nhiều trường 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.