Xác định trữ lượng CO2 hấp thụ rừng Khộp Đắk Lắk | Lê Thị Tú, Đại học Lâm nghiệp

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu xác định dự trữ co2 hấp thụ của các trạng thái rừng khộp tại tỉnh đăk lắk, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện pháp hoàn thiện trong

Trường đại học

Trường Đại Học Lâm Nghiệp

Chuyên ngành

Khoa Học Lâm Nghiệp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sỹ

2011

80
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

ĐẶT VẤN ĐỀ

1. Chương 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Trên thế giới

1.1.1. Nghiên cứu về sinh khối rừng

1.1.2. Nghiên cứu khả năng hấp thụ CO2 của rừng

1.2. Ở Việt Nam

1.2.1. Nghiên cứu về sinh khối rừng

1.2.2. Nghiên cứu khả năng hấp thụ CO2 của rừng

Tóm tắt

I. Rừng Khộp Đắk Lắk Bí quyết hấp thụ CO2 từ luận văn

Biến đổi khí hậu là một thách thức toàn cầu, và việc giảm phát thải khí nhà kính là vô cùng quan trọng. Rừng đóng vai trò then chốt trong việc hấp thụ CO2, một trong những khí nhà kính chính. Rừng khộp ở Đắk Lắk, một hệ sinh thái đặc thù của Tây Nguyên, có tiềm năng lớn trong việc lưu trữ carbon. Luận văn thạc sĩ này đi sâu vào xác định trữ lượng CO2 hấp thụ của các trạng thái rừng khộp khác nhau tại Đắk Lắk, cung cấp cơ sở khoa học cho các chính sách quản lý rừng bền vữngchi trả dịch vụ môi trường rừng. Theo nghiên cứu, sự ra đời của Nghị định thư Kyoto dựa trên Công ước khung của Liên hiệp quốc về biến đổi khí hậu (UNFCCC - 1992) thể hiện sự quan tâm của toàn nhân loại về vấn đề biến đổi khí hậu toàn cầu. Nghiên cứu này góp phần vào nỗ lực chung trong việc giảm thiểu biến đổi khí hậuphát triển kinh tế xanh.

1.1. Tổng quan về hệ sinh thái rừng khộp Đắk Lắk

Rừng khộp là một hệ sinh thái đặc trưng của khu vực Tây Nguyên, Việt Nam. Chúng có vai trò quan trọng trong việc bảo tồn đa dạng sinh học, cung cấp các dịch vụ hệ sinh thái quan trọng, và đặc biệt là hấp thụ CO2. Tuy nhiên, các nghiên cứu về khả năng hấp thụ CO2 của rừng khộp còn hạn chế. Rừng khộp tại Đăk Lăk là hệ sinh thái đặc thù ở khu vực Tây Nguyên, một khu vực rộng lớn mà diện tích rừng tự nhiên chiếm trên 20% tổng diện tích rừng của cả nước.

1.2. Tầm quan trọng của luận văn về hấp thụ CO2 rừng khộp

Luận văn thạc sĩ này có ý nghĩa quan trọng trong việc cung cấp số liệu khoa học về trữ lượng carbon trong rừng khộp. Kết quả nghiên cứu có thể được sử dụng để xây dựng các chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, khuyến khích người dân địa phương tham gia vào công tác bảo vệ và phát triển rừng, đồng thời góp phần vào các nỗ lực giảm phát thải khí nhà kínhứng phó với biến đổi khí hậu.

II. Thách thức và biện pháp đánh giá trữ lượng CO2 rừng

Việc đánh giá trữ lượng CO2 trong rừng khộp gặp nhiều thách thức, bao gồm sự phức tạp của hệ sinh thái, sự thiếu hụt dữ liệu và các phương pháp đo đạc sinh khối còn hạn chế. Luận văn này sử dụng các phương pháp luận nghiên cứu khoa học để xác định trữ lượng CO2 trong các thành phần khác nhau của rừng khộp, bao gồm sinh khối rừng, thảm thực vật rừng khộpvật rơi rụng. Vấn đề hiện nay của Việt Nam phải xác định được những giá trị dịch vụ môi trường mà rừng mang lại bao gồm cả giá trị lưu giữ và hấp thụ carbon của rừng làm cơ sở để triển khai chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng.

2.1. Các phương pháp đo đạc sinh khối rừng khộp hiện nay

Có nhiều phương pháp đo đạc sinh khối rừng, từ các phương pháp truyền thống như chặt hạ câyđo đạc trực tiếp đến các phương pháp hiện đại hơn như sử dụng công cụ đo đạc trữ lượng carbon dựa trên công nghệ viễn thám và GIS. Việc lựa chọn phương pháp phù hợp phụ thuộc vào mục tiêu nghiên cứu, nguồn lực và điều kiện thực địa.

2.2. Khó khăn trong việc xác định chính xác trữ lượng carbon

Việc xác định chính xác trữ lượng carbon trong rừng khộp là một nhiệm vụ phức tạp do sự biến động tự nhiên của hệ sinh thái, sự khác biệt về thành phần loàituổi rừng. Cần có các nghiên cứu dài hạn và các phương pháp thống kê sinh học chính xác để giảm thiểu sai số và đảm bảo tính tin cậy của kết quả.

2.3. Vai trò của phương trình tương quan trong xác định trữ lượng CO2

Luận văn xây dựng được phương trình tương quan giữa lượng CO2 hấp thụ của cây cá thể với các nhân tố điều tra dễ xác định. Việc xây dựng các phương trình tương quan giữa các yếu tố dễ đo đạc (ví dụ: đường kính cây, chiều cao cây) và trữ lượng carbon là rất quan trọng để ước tính nhanh chóng và hiệu quả trữ lượng carbon trong rừng khộp.

III. Giải pháp quản lý rừng khộp Tăng khả năng hấp thụ CO2

Để tăng khả năng hấp thụ CO2 của rừng khộp, cần áp dụng các biện pháp quản lý rừng bền vững, bao gồm bảo vệ rừng hiện có, phục hồi rừng bị suy thoáitrồng rừng mới. Các biện pháp này cần được thực hiện dựa trên các nghiên cứu khoa học và phù hợp với điều kiện sinh thái và kinh tế - xã hội của địa phương. Việc thực hiện quyết định 380/QĐ-TTg về chính sách thí điểm chi trả dịch vụ môi trường rừng (ngày 10/04/2008) và quyết định Số 158/QĐ-TTg về phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu (ngày 02/12/2008) tới nay Chính phủ đã ban hành nghị định số 99/2010/NĐ-CP về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (ngày 24/9/2010), tạo ra cơ hội cải thiện cuộc sống cũng như sinh kế rất tốt cho người dân tham gia vào công tác bảo vệ và phát triển rừng.

3.1. Bảo vệ rừng hiện có Chìa khóa cho lưu trữ carbon

Việc bảo vệ rừng hiện có là biện pháp quan trọng nhất để duy trì trữ lượng carbon trong rừng khộp. Điều này đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng, người dân địa phương và các tổ chức xã hội để ngăn chặn khai thác gỗ trái phép, cháy rừngchuyển đổi mục đích sử dụng đất.

3.2. Phục hồi rừng suy thoái Gia tăng trữ lượng carbon

Các khu rừng khộp bị suy thoái do khai thác quá mức, chăn thả gia súc hoặc biến đổi khí hậu cần được phục hồi bằng cách trồng lại cây bản địa, cải tạo đấtngăn chặn xói mòn. Việc gia tăng trữ lượng carbon trong rừng phục hồi sẽ góp phần quan trọng vào việc giảm phát thải khí nhà kính.

3.3. Ứng dụng biện pháp lâm sinh bền vững để tăng hấp thụ CO2

Thực hiện các biện pháp lâm sinh phù hợp, như tỉa thưa, chọn cây giống tốt, và bón phân, có thể giúp tăng sinh trưởng rừng, qua đó gia tăng khả năng hấp thụ CO2 của rừng khộp. Ngoài ra, cần chú trọng đến việc bảo tồn đa dạng sinh họcduy trì các dịch vụ hệ sinh thái khác của rừng.

IV. Ứng dụng kết quả nghiên cứu Chính sách và thị trường carbon

Kết quả nghiên cứu về hấp thụ CO2 của rừng khộp có thể được sử dụng để xây dựng các chính sách lâm nghiệp phù hợp, khuyến khích định giá carbon và tham gia vào thị trường carbon. Điều này sẽ tạo ra các nguồn tài chính bổ sung cho việc bảo vệ và phát triển rừng, đồng thời góp phần vào các nỗ lực giảm phát thải khí nhà kính trên phạm vi quốc gia và quốc tế. Theo ngân hàng thế giới (1998), các nhà khoa học đã ước lượng giá trị dịch vụ do hệ sinh thái rừng trên toàn thế giới đạt khoảng 33.000 tỷ USD/năm, trong đó giá trị mang lại từ giá trị thương mại C02 là rất lớn.

4.1. Xây dựng chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng

Kết quả nghiên cứu về trữ lượng carbon trong rừng khộp có thể được sử dụng để xác định mức chi trả dịch vụ môi trường rừng cho người dân địa phương tham gia vào công tác bảo vệ và phát triển rừng. Mức chi trả cần được tính toán dựa trên giá trị lưu trữ carbon và các dịch vụ hệ sinh thái khác mà rừng khộp cung cấp.

4.2. Tham gia thị trường carbon tự nguyện và REDD

Rừng khộp có tiềm năng lớn để tham gia vào thị trường carbon thông qua các dự án REDD+ (Giảm phát thải khí nhà kính do mất rừng và suy thoái rừng). Các dự án này có thể tạo ra các nguồn tài chính bổ sung cho việc bảo vệ rừng, đồng thời góp phần vào các nỗ lực giảm phát thải khí nhà kính trên toàn cầu.

4.3. Phát triển kinh tế xanh dựa trên giá trị carbon của rừng khộp

Khuyến khích các hoạt động phát triển kinh tế xanh dựa trên giá trị carbon của rừng khộp, ví dụ như du lịch sinh thái, sản xuất lâm sản bền vững và phát triển các sản phẩm nông nghiệp thân thiện với môi trường. Điều này sẽ tạo ra các cơ hội việc làm và thu nhập cho người dân địa phương, đồng thời góp phần vào việc bảo tồn rừnggiảm phát thải khí nhà kính.

V. Kết luận Tương lai của nghiên cứu và bảo tồn rừng khộp

Luận văn thạc sĩ này đã cung cấp những thông tin quan trọng về khả năng hấp thụ CO2 của rừng khộp Đắk Lắk. Tuy nhiên, cần có thêm các nghiên cứu khoa học sâu rộng hơn để hiểu rõ hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến trữ lượng carbon trong rừng khộp và để phát triển các biện pháp quản lý rừng hiệu quả hơn. Cần tăng cường sự hợp tác giữa các nhà khoa học, các cơ quan quản lý và người dân địa phương để đảm bảo sự bảo tồnphát triển bền vững của rừng khộp, một hệ sinh thái quan trọng của Việt Nam.

5.1. Hướng nghiên cứu tiếp theo về hấp thụ CO2 rừng khộp

Các hướng nghiên cứu tiếp theo có thể tập trung vào việc đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến khả năng hấp thụ CO2 của rừng khộp, nghiên cứu các phương pháp tăng cường trữ lượng carbon trong rừng khộp và phát triển các mô hình dự báo về trữ lượng carbon trong rừng khộp.

5.2. Sự cần thiết của hợp tác trong bảo tồn và phát triển rừng

Sự bảo tồnphát triển bền vững của rừng khộp đòi hỏi sự hợp tác chặt chẽ giữa các nhà khoa học, các cơ quan quản lý, người dân địa phương và các tổ chức xã hội. Cần có sự chia sẻ thông tin, kinh nghiệm và nguồn lực để đảm bảo rằng các hoạt động quản lý rừng được thực hiện một cách hiệu quả và bền vững.

02/10/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Trên thế giới 1. Nghiên cứu về sinh khối rừng Sinh khối là tổng lượng chất hữu cơ có được trên một đơn vị diện tích tại một thời điểm được tính bằng tấn/ha theo khối lượng khô (Ong, J. Sinh khối bao gồm tổng khối lượng thân, cành, lá, hoa, quả, rễ trên mặt đất, dưới mặt đất.

Việc nghiên cứu sinh khối cây rừng là cơ sở đánh giá lượng carbon tích lũy của cây rừng, do vậy có ý nghĩa lớn trong việc đánh giá chất lượng phục vụ cho quản lý và sử dụng tài nguyên rừng. Ngay từ thế kỷ 17 trên thế giới đã có nghiên cứu về lĩnh vực sinh lý thực vật, vai trò, cơ chế hoạt động của diệp thực vật màu xanh trong quá trình quang hợp để tạo ra các sản phẩm hữu cơ dưới tác động của các yếu tố tự nhiên như đất, nước, không khí và năng lượng mặt trời. Nhờ áp dụng các thành tựu khoa học như hoá phân tích, hoá thực vật và đặc biệt là vận dụng nguyên lý tuần hoàn vật chất trong thiên nhiên, các nhà khoa học đã thu được những thành tựu đáng kể trong thế kỷ XIX. Một số nghiên cứu tiêu biểu có thể tóm tắt lại như sau: - Xây dựng định luật "năng suất" dựa trên định luật “tối thiểu” của Liebig J.

và dựa trên các kết quả nghiên cứu về định lượng của sự tác động của thực vật tới không khí, đã được mô tả bởi Liebig, J (1862) [33]. - Các công trình nghiên cứu về phát triển sinh khối rừng đã được tổng kết bởi Riley G. - Bản đồ năng suất trên toàn thế giới đã được xây dựng bởi Lieth, H. (1964) [34], đồng thời với sự ra đời của chương trình sinh học quốc tế “IBP” (1964) và chương trình sinh quyển con người “MAB” (1971) đã tác động mạnh mẽ tới việc nghiên cứu sinh khối.

Những nghiên cứu trong giai đoạn này tập trung vào các đối tượng đồng cỏ, savan, rừng rụng lá, rừng mưa thường xanh. Theo Lê Hồng Phúc (1994), Duyiho công bố thực vật ở biển hàng năm download by : skknchat@gmail.com 4 quang hợp đến 3x1010 tấn vật chất hữu cơ, trên mặt đất là 5,3x1010 tấn. Đối với hệ sinh thái rừng nhiệt đới năng suất chất khô thuần từ 10 - 50 tấn/ha/năm, trung bình là 20 tấn/ha/năm, sinh khối chất khô từ 60 - 800 tấn/ha/năm, trung bình là 450 tấn/ha/năm. Năng suất sơ cấp của một số hệ sinh thái đã được đưa ra bởi Dajoz (1971) như sau:  Năng suất mía ở châu Phi: 67 tấn/ha/năm.

 Năng suất rừng nhiệt đới thứ sinh ở Yangambi: 20 tấn/ha/năm.  Savana cỏ Mỹ (Penisetum purpureum) châu Phi: 30 tấn/ha/năm.  Đồng cỏ tự nhiên ở Fustuca (Đức): 10,5 - 15,5 tấn/ha/năm.  Đồng cỏ tự nhiên Deschampia và Trifolium ở vùng ôn đới là 23,4 tấn/ha/năm.

 Sinh khối của Savana cỏ cao Andrôpgon (cỏ Ghine): 5000 - 10000 kg/ha/năm. Rừng thứ sinh 40 - 50 tuổi ở Ghana: 362. Công trình “Sinh khối và năng suất sơ cấp rừng thế giới - World forest biomass and primary production data” đã tập hợp 600 công trình đã được xuất bản về sinh khối khô thân, cành, lá và một số thành phần, sản phẩm sơ cấp của hơn 1.200 lâm phần thuộc 46 nước trên thế giới [43]. Lasco (2002) [38] công bố mặc dù rừng chỉ che phủ 21% diện tích bề mặt trái đất, nhưng sinh khối thực vật của nó chiếm đến 75% so với tổng sinh khối thực vật trên cạn và lượng tăng trưởng sinh khối hàng năm chiếm 37%.

Phương pháp xác định sinh khối rất quan trọng quyết định đến độ chính xác của kết quả nghiên cứu. Sau đây là một số phương pháp đã được các tác giả công bố: - Công trình: “Đánh giá sinh khối thông qua viễn thám” đã nêu tổng quát vấn đề sản phẩm sinh khối và việc đánh giá sinh khối bằng ảnh vệ tinh, công bố bởi P. - Một số tác giả như Trasnean (1926), Huber (Đức, 1952), Monteith (Anh, 1960 - 1962), Lemon (Mỹ, 1960 - 1987), Inone (Nhật, 1965 - 1968),. đã dùng download by : skknchat@gmail.com 5 phương pháp dioxit carbon để xác định sinh khối.

Theo đó sinh khối được đánh giá bằng cách xác định tốc độ đồng hoá CO2 Phương pháp “Chlorophyll” xác định sinh khối thông qua hàm lượng Chlorophyll trên một đơn vị diện tích mặt đất. Đây là một chỉ tiêu biểu thị khả năng của hệ sinh thái hấp thụ các tia bức xạ hoạt động quang tổng hợp được công bố bởi Aruga và Maidi (1963).L (1971) cho rằng "Số đo năng suất chính là số đo về tăng trưởng, tích luỹ sinh khối ở cơ thể thực vật trong quần xã".H (1968) [42] đã đề ra phương pháp "thu hoạch" để nghiên cứu năng suất sơ cấp tuyệt đối.J (1967) đề nghị phương pháp “cây mẫu” để nghiên cứu sinh khối và năng suất của quần xã từ các ô tiêu chuẩn. Phương pháp này được chương trình quốc tế “IBP” thống nhất áp dụng. - Phương pháp xác định sinh khối rừng dựa vào mối liên hệ giữa sinh khối và kích thước cây hoặc của từng bộ phận cây theo dạng hàm toán học nào đó được sử dụng phổ biến ở Bắc Mỹ và châu Âu (Whittaker, 1966) [41]; Tritton và Hornbeck, 1982; Smith và Brand, 1983).

Theo Grier và cộng sự (1989), Reichel (1991), Burton V. Barner và cộng sự (1998) [27] do khó khăn trong việc thu thập rễ cây nên phương pháp này chủ yếu dùng để xác định sinh khối của bộ phận trên mặt đất. - Phương pháp Oxygen năm 1968 nhằm định lượng oxy tạo ra trong quá trình quang hợp của thực vật màu xanh. Từ đó tính ra được năng suất và sinh khối rừng đã được Edmonton.

- Phương pháp lấy mẫu rễ để xác định sinh khối được mô tả bởi Shurrman và Geodewaaen (1971), Moore (1973), Gadow và Hui (1999), Oliveira và cộng sự (2000), Voronoi (2001), McKenzie và cộng sự (2001) [35]. - Theo Catchpole và Wheeler (1992) bộ phận cây bụi và những cây tầng dưới của tán rừng đóng góp một phần quan trọng trong tổng sinh khối rừng. Có nhiều phương pháp để ước tính sinh khối cho bộ phận này, các phương pháp bao gồm: download by : skknchat@gmail.com 6 (1)- Lấy mẫu toàn bộ cây (quadrats); (2)- phương pháp kẻ theo đường; (3)- phương pháp mục trắc; (4)- phương pháp lấy mẫu kép sử dụng tương quan. Năm 2002, tổ chức “Australian Greenhouse Office” [26] đã soạn thảo sổ tay hướng dẫn đo đạc ngoài thực địa cho việc đánh giá carbon rừng bao gồm cả rừng trồng và rừng tự nhiên.

Ngoài ra, Kurniatun và cộng sự (2001) [32] cũng đã xây dựng một hệ thống các phương pháp cho việc thu thập số liệu về sinh khối trên và dưới mặt đất rừng nhằm phục vụ công tác nghiên cứu khả năng hấp thụ carbon của rừng. Nghiên cứu khả năng hấp thụ CO2 của rừng Trong chu trình carbon toàn cầu, lượng carbon lưu trữ trong thực vật thân gỗ và trong lòng đất khoảng 2,5 Tt (bao gồm trong đất, sinh khối tươi và vật rơi rụng), khí quyển chỉ chứa 0,8 Tt. Dòng carbon trao đổi do sự hô hấp và quang hợp của thực vật là 0,61 Tt và dòng trao đổi giữa không khí và đại dương là 0,92 Tt. Theo chu trình C, trong tổng số 5,5 Gt - 6,6 Gt lượng carbon thải ra từ các hoạt động của con người, có khoảng 0,7 Gt được hấp thụ bởi các hệ sinh thái bên trên bề mặt trái đất, và hầu hết lượng carbon trên trái đất được tích lũy trong đại dương và các hệ sinh thái rừng, đặc biệt là rừng mưa nhiệt đới.

Một số năm gần đây các nhà khoa học và chuyên gia kinh tế trên thế giới đã quan tâm đến việc tích tụ carbon trong rừng để làm giảm bớt khả năng tích tụ khí gây hiệu ứng nhà kính trong bầu khí quyển (Adams et al., 1993 ; Adams et al. Tổng lượng carbon dự trữ của rừng trên toàn thế giới khoảng 826 tỷ tấn chủ yếu ở cây và trong lòng đất (Brown, 1998), con người hoàn toàn có thể chuyển dịch các carbon từ khí quyển thông qua một số bước nhằm tăng các bể chứa carbon này. Các bước này có thể bao gồm tăng khối lượng carbon dự trữ cho một ha thông qua quản lý mật độ hoặc tuổi rừng (Hoen and Solberg, 1994; Van Kooten et al., 1995; and Murray, 2000) hoặc tăng diện tích rừng (Stavins, 1999; Plantinga et al; 1999) bằng phương pháp này đã đưa * 1 terra ton (Tt) = 1012tấn = 1018g  1 giga ton (Gt)= 109tấn=1015g download by : skknchat@gmail.com 7 ra nhiều triển vọng làm giảm giá thành cắt giảm khí nhà kính trong khí quyển và mối lo ngại toàn cầu. Carbon trong hệ sinh thái rừng thường tập trung ở bốn bộ phận chính: Thảm thực vật còn sống trên mặt đất, vật rơi rụng, rễ cây và đất rừng.

Vì vậy, việc xác định lượng carbon trong rừng thường thông qua xác định sinh khối rừng (Mc Kenzie, 2001). Tại Indonesia rừng có lượng carbon hấp thụ từ 161 - 300 tấn/ha trong phần sinh khối trên mặt đất (Murdiyarso D, 1995). Trung tâm nghiên cứu phát triển và bảo tồn rừng của Indonesia đã nghiên cứu khả năng hấp thụ carbon của rừng trồng Keo tai tượng, Thông trên đảo Java. Nghiên cứu đã được tiến hành cho các đối tượng rừng trồng ở các tuổi khác nhau kết quả cho thấy khả năng hấp thụ CO2 của Thông cao hơn Keo tai tượng (22.09 t CO2/ha/year, 18.59 tCO2/ha/year (Ika Heriansyah and Chairil, 2005).

Năm 2000, Noordwijk đã nghiên cứu khả năng tích luỹ carbon của các rừng thứ sinh, các hệ NLKH và thâm canh cây lâu năm trung bình là 2,5 tấn/ha/năm và đã nghiên cứu mối quan hệ giữa điều kiện xung quanh với loài cây: khả năng tích luỹ carbon này biến động từ 0,5 - 12,5 tấn/ha/năm, rừng Quế 7 tuổi tích luỹ từ 4,49 - 7,19 kg C/ha. Subarudi và các cộng sự (2003), nghiên cứu về khả năng hấp thu carbon của một số loài cây trồng chính, trên cơ sở đó đã xây dựng mô hình kinh tế cho các loài cây này, trong đó có loài Keo tai tượng đã đưa ra được phương trình tính lượng carbon có trong sinh khối cây với loài Keo tai tượng:  0.75 Vt: là thể tích cây tính theo tuổi: Vt  194,21  Exp(1,926(1  0.2) Tại Philippines (1999), Lasco R. cho thấy ở rừng tự nhiên thứ sinh có 86 - 201 tấn C/ha trong phần sinh khối trên mặt đất; ở rừng già là 370 - 520 tấn sinh khối/ha (tương đương 185 - 260 tấn C/ha, lượng carbon ước chiếm 50% sinh khối). Rừng sản xuất cây mọc nhanh tích luỹ được 0,5 - 7,82 tấn C/ha/năm tuỳ theo loài cây và tuổi; download by : skknchat@gmail.

đã xác định lượng carbon trong sinh khối trên mặt đất tại Thái Lan là 72 - 182 tấn/ha.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ