CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ HƯỚNG TIẾP CẬN LÝ THUYẾT 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Nước ngoài Một kết quả nghiên cứu đăng trên chuyên san Human Communication Research năm 2010 tổng hợp từ 3 cục khảo sát nhỏ tần suất nói dối một người trung bình của một người là 1,65 lần/ngày. Theo một nghiên cứu của khoa tâm lí Đại học Potsmouth (Anh) trên 50 trẻ em và bố mẹ chúng cho thấy trẻ bắt đầu "nói dối" ngay từ khi mới được 6 tháng tuổi.
Theo đó, trẻ giả vờ khóc hoặc cười để thu hút sự chú ý của người lớn. Đến khoảng tháng thứ 8, chúng bắt đầu hình thành những hành vi phức tạp hơn như giấu việc tham gia những hoạt động bị cấm hoặc cố làm cha mẹ xao nhãng. Khi trẻ 2 tuổi, hành vi này phát triển phức hơn nữa để chống đối những hình phạt của cha mẹ. Cuộc khảo sát tiến hành bởi Susan Shapiro Barash, tác giả cuốn Little White Lies, Deep Dark Secrets cho thấy 80% thành viên tham gia thừa nhận phụ nữ nói dối thông minh hơn và trót lọt hơn đàn ông.Trong đó, 75% phụ nữ thừa nhận họ hay nói dối ở nơi làm việc để giữ vị trí, 75% cho biết họ thường nói dối bạn trai, chồng hoặc người thân trong gia đình khi đề cập tới chuyện tiền bạc.
Nghiên cứu của Đại học Cornell (Mỹ) cho thấy con người có xu hướng nói dối nhiều hơn khi giao tiếp qua điện thoại, thay vì email hoặc gặp mặt trực tiếp. 37% thành viên tham gia nói dối khi giao tiếp qua điện thoại. Tỷ lệ này ở nhóm gửi tin nhắn là 21%, email là 14% và gặp mặt trực tiếp là 27%. Theo các nhà khoa học, giao tiếp qua điện thoại vẫn thuộc loại giao tiếp ngôn từ, trong khi đó email hoặc tin nhắn là loại giao tiếp phi ngôn từ, bởi vậy 2 người nói chuyện không phải tiếp nhận trực tiếp cảm xúc của đối phương, đồng thời cũng rất ít khi bắt gặp câu hỏi phải trả lời ngay lập tức như khi nói chuyện điện thoại.
Theo cuộc khảo sát tiến hành bởi hãng phim 20th Century Fox Home Entertainment khi ra mắt bộ phim Lie to me Season 1, trung bình một tuần, nam giới nói dối 42 lần với người yêu, vợ, sếp và đồng nghiệp. Như vậy, tần suất nói dối của họ là 2.184 lần/năm 6 và khoảng 126.672 lần trong một đời người. Ngược lại, phụ nữ nói dối nhiều nhất 3 lần/ngày, như vậy tần suất nói dối của họ là 1.796 lần trong một đời người. Tất cả các nghiên cứu trên đã chứng minh được rằng con người bắt đầu nói dối từ lúc còn nhỏ.
Tần suất nói dối của họ ngày càng tăng khi họ trưởng thành. Trong tất cả các nghiên cứu nói trên sinh viên chỉ thấy nghiên cứu của khoa tâm lí học Đại học Potsmouth (Anh) là nghiên cứu mà sinh viên có thể sử dụng trong đề tài của mình. Trong nghiên cứu này đã nói đến đặc điểm tâm lí của trẻ. Trẻ bắt đầu nói dối từ khi còn nhỏ, đây cũng được xem là nền tảng để cho trẻ nói dối khi lớn lên.
Những hành vi nói dối của trẻ thay đổi theo từng giai đoạn lứa tuổi khác nhau. Bên cạnh, đó tất cả các nghiên cứu trên vẫn chưa nói được nguyên nhân vì sao con người càng lớn họ nói dối ngày một nhiều và phụ nữ nói dối nhiều hơn đàn ông. Trong nước Tại hội thảo "Thực trạng văn hoá học đường và nhu cầu giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học" tổ chức ngày 24/9 vừa qua, GS-TSKH Trần Ngọc Thêm, Giám đốc Trung tâm Văn hoá học lý luận và ứng dụng (Đại học Quốc gia TP.HCM) đã đưa ra một kết quả điều tra: Tỉ lệ nói dối cha mẹ ở học sinh cấp tiểu học là 22%, cấp THCS là 50%, cấp THPT là 64%, sinh viên là 80%. Con số này không gây bất ngờ vì chuyện nói dối trong môi trường giảng đường không hề mới, nhưng nhìn vào "bước tiến" của nó giữa các bậc học thì thật đáng lo ngại.
Nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở bậc đại học, không rõ ở những bậc sau đại học tỷ lệ này có được làm tròn lên 100% không. Ngay tại cấp I, lứa tuổi từ 6-10, đã có hơn 20% số trẻ nói dối cha mẹ. Có lẽ con số này cũng không chính xác theo kiểu cứ 5 trẻ thì có một trẻ nói dối, vì thực chất, người nào cũng nói dối một lần trong đời. Nhưng với trẻ con, việc nói dối có thể vô hại.
Anh Nguyễn Văn Hưng (Định Công, Hà Nội) chia sẻ: "Việc con trẻ nói dối cũng vì nhiều lý do. Ban đầu có thể trẻ cũng không ý thức được đó là nói dối, câu chuyện của trẻ có thể thêm thắt chỗ này chỗ khác, không ảnh hưởng gì đến ai. Như có một lần đến trường đón con, trên đường về con bé kể chuyện nhìn một vụ cướp giật ở cổng trường, mô tả y như thật. Đến tối về cháu cũng kể cho cả nhà nghe, ai cũng tin và tỏ ra lo lắng.
7 Ngày hôm sau tôi đến sớm ngồi ở quán nước, nói chuyện về vụ cướp nhưng những người ở xung quanh nói không có vụ cướp nào cả. Khi về tôi hỏi lại cháu thì cháu lại bảo nghe bạn kể lại". Vị phụ huynh này cũng cho biết, từ đó anh chú ý hơn đến những lời nói và cử chỉ của con gái và thấy rằng cháu rất hay bịa ra những câu chuyện kiểu ly kỳ để gây sự chú ý. Hay những lúc mắc phải tội gì, cháu hay tìm những lý do để chối tội hoặc đổ cho người khác.
"Tôi nghĩ trẻ con đứa nào cũng sợ bị đòn nên thường nói dối, đó cũng là lẽ bình thường. Việc này phải dạy bảo dần dần chứ không thể một sớm một chiều là ổn được" Những số liệu đã được nêu lên trong hội thảo cho thấy tình trạng nói dối của học sinh tăng lên theo cấp bậc học theo lứa tuổi, càng học lên học sinh nói dối ngày càng nhiều. Tại hội thảo ý kiến của phụ huynh về con em mình cũng được đề cập đến. Sinh viên nhận thấy một điểm của phụ huynh mà sinh viên áp dụng vào bài của mình đó là "Tôi nghĩ trẻ con đứa nào cũng sợ bị đòn nên thường nói dối, đó cũng là lẽ bình thường.
Việc này phải dạy bảo dần dần chứ không thể một sớm một chiều là ổn được". Đây là một đặc điểm tâm lí mà đứa trẻ nào cũng có từ khi sinh ra cho tới lớn lên. Qua đây cho thấy rằng, ba mẹ phải là người hiểu về con của mình để có thể thay đổi hành vi của trẻ. Thao tác hóa khái niệm Nói dối: Nói dối là nói không đúng sự thật và mục đích của nó là nhằm lợi mình hại người hay tạo sự hoang mang, nghi ngờ, đố kỵ, giận hờn, ghen tuông.
trong lòng người khác Có rất nhiều khái niệm về trẻ em những trong bài sinh viên chỉ lấy 2 khái niệm Trẻ em theo định nghĩa sinh học: Trẻ em là con người ở giai đoạn phát triển, từ khi còn trong trứng đến tuổi trưởng thành. Dưới góc độ xã hội học: Trẻ em là giai đoạn con người đang sống học cách tiếp cận những chuẩn mực của xã hội và đóng vai trò xã hội của mình, đây là giai đoạn xã hội hóa mạnh nhất và giai đoạn đóng vai trò quyết định của việc hình thành nhân cách của mỗi con người. Các thuyết áp dụng Thuyết hệ thống sinh thái: thuyết này giúp nhân viên xã hội phân tích thấu đáo sự tương tác trong các hệ thống xã hội và hình dung những tương tác này ảnh hưởng ra 8 sao đến hành vi con người. Lý thuyết hệ thống chỉ ra sự tác động mà các tổ chức, cộng đồng và các nhóm ảnh hưởng lên cá nhân.
Cá nhân được xem như là bị lôi cuốn vào sự tương tác không dứt với nhiều hệ thống khác nhau trong môi trường. Mục đích của công tác xã hội là cải thiện mối tương tác giữa thân chủ và hệ thống. Có 3 cấp độ: cấp vĩ mô đề cập đến một cá nhân và kết hợp các hệ thống sinh học, tâm lí và xã hội tác động lên cá nhân ấy. Cấp trung mô, các nhóm nhỏ ảnh hưởng đến cá nhân như gia đình, nhóm làm việc và những nhóm xã hội khác.
Cấp vĩ mô, nhóm những hệ thống lớn hơn gia đình các tổ chức thiết chế cộng đồng và nền văn hóa. Sinh viên sử dụng thuyết hệ thống để xác định các mối quan hệ trong một hệ thống ảnh hưởng đến thân chủ. Và cũng từ đây tìm ra nguồn lực hỗ trợ thân chủ trong việc giải quyết vấn đề. Bên cạnh đó, với thuyết này sinh viên cũng muốn xem xét trong 3 hệ thống thì hệ thống nào sẽ hỗ trợ thân chủ tích cực trong giải quyết vấn đề.
Thuyết hành vi: hành vi là tổng thể chuỗi dài các phản ứng là đời sống thực của con người. Một số nguyên tắc căn bản và những giả định của thuyết hành vi: hành vi là tất cả những sinh hoạt và phản ứng của con người mà quan sát hay đo lường được mọi người học cách cư xử từ những phản ứng trực tiếp của môi trường từ việc quan sát người khác hành xử ra sao. Hành vi có thể thay đổi được. Đánh giá: sau khi giúp thân chủ hiểu rõ nguyên tắc can thiệp hành vi nhân viên xã hội có thể thực hiện việc đánh giá qua quá trình phân tích chức năng hành vi Vấn đề của bạn là gì Vấn đề này bắt đầu từ bao giờ Vấn đề xảy ra bao lâu một lần Vấn đề kéo dài trong bao lâu Vấn đề này ảnh hưởng tới đời sống như thế nào… Tiến trình can thiệp theo thuyết hành vi Xác định vấn đề của thân chủ theo thuyết hành vi Nhân viên xã hội và thân chủ thu thập thông tin vấn đề 9 Xác định hành vi mục tiêu -> phân nhỏ hành vi mục tiêu -> xếp các hành vi mục tiêu phân nhỏ theo thứ tự.
Cụ thể hóa các bước cần thiết để giải quyết vấn đề Xác định các kết quả cụ thể có thể có được khi trị liệu Xác định nguồn lực và tài nguyên con người của thân chủ có thể tạo ra sự thay đổi. Dự đoán các trở ngại có thể ngăn cản việc đạt được mục tiêu và lên kế hoạch giảm thiểu những trở ngại này. Chọn lựa chiến lược can thiệp phù hợp với sự tham gia của thân chủ và trọng tâm là tạo ra những kết quả tích cực cho các hành vi mới.