phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương, 9 tiết: Chƣơng 1: Xuất khẩu lao động của Việt Nam - Tính cấp thiết và thành tựu. Chƣơng 2: Những hạn chế trong xuất khẩu lao động của Việt Nam và những nguyên nhân chủ yếu của các hạn chế ấy. Chƣơng 3: Những giải pháp để khắc phục những hạn chế nhằm đẩy mạnh xuất khẩu lao động của Việt Nam. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG CỦA VIỆT NAM - TÍNH CẤP THIẾT VÀ THÀNH TỰU 1.
Sự cấp thiết phải đẩy mạnh xuất khẩu lao động từ Việt Nam Xuất khẩu lao động (XKLĐ) là một hoạt động kinh tế đối ngoại phổ biến, gắn với xu hướng toàn cầu hóa kinh tế. Theo thống kê của Tổ chức Di cư Thế giới (IOM), hiện có hơn 200 triệu người đang làm việc ở nước khác, chiếm 3 tổng dân cư trên thế giới. Còn theo ước tính của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), trung bình cứ 25 người lao động trên thế giới thì có một người đang làm việc ở nước ngoài. XKLĐ được đề cập trong luận văn này là sự di chuyển LĐ và chuyên gia đến làm việc có thời hạn ở NN (sau đây xin được gọi chung là XKLĐ) có tổ chức, hợp pháp thông qua những Hiệp định Chính phủ, hoặc các tổ chức kinh tế được cấp giấy phép hoạt động cung ứng và tiếp nhận LĐ, hoặc thông qua các hợp đồng thầu khoán công trình hay đầu tư ở nước ngoài.
Việc đẩy mạnh XKLĐ trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam đang trở thành cấp thiết là do: 1. Trên thị trường lao động ở Việt Nam cung vượt cầu quá xa Nguồn cung về lao động Việt Nam rất dồi dào (xem bảng 1.1) Số liệu của cuộc Tổng điều tra (TĐT) dân số và nhà ở năm 2009 cho thấy, Việt Nam đang trong thời kỳ "cơ cấu dân số vàng", thời kỳ mà nhóm dân số trong độ tuổi LĐ cao gần gấp đôi nhóm dân số trong độ tuổi "phụ thuộc". So với kết quả của cuộc TĐT năm 1999, tỷ trọng dân số dưới 15 tuổi giảm từ 33 năm 1999 xuống còn 25 năm 2009, trong khi tỉ trọng dân số của nhóm 15 - 59 tuổi tăng từ 58 năm 1999 lên 66 năm 2009 [49]. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.1: Tổng số dân và dân số trong độ tuổi từ 15 đến 59 ở Việt Nam Chỉ tiêu 1979 1989 1999 2007 2020 Tổng số dân (triệu) 52,742 64,375 76,325 85,1549 99,003 P15-59* (triệu) 26,63 34,76 44,58 55,38 64,543 Tỷ lệ gia tăng P ( ) 2,0 1,7 1,37 1,16 - Tỷ lệ gia tăng P15-59 (%) 2,66 2,49 2,71 1,18 - Nguồn: Báo cáo năm 2007 Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, Số liệu thống kê việc làm và thất nghiệp ở Việt Nam giai đoạn 1996 – 2005, Nxb.
Lao động - Xã hội, tr. Dân số đông, tỷ lệ tăng dân số cao, cơ cấu dân số nước lại tương đối trẻ nên nguồn LĐ của nước ta rất dồi dào. Đến năm 2020 ước tính số người trong độ tuổi LĐ ở nước ta là trên 64 triệu người tương ứng 60 dân số. Hàng năm chúng ta phải tạo ra 1,5 đến 1,6 triệu chỗ làm việc mới cho số người bước vào độ tuổi LĐ.
Đó là chưa kể số bộ đội phục viên xuất ngũ, số học sinh thôi học, số LĐ giảm biên chế trong khu vực Nhà nước, thương binh, người tàn tật… có nhu cầu tạo làm việc để bảo đảm cuộc sống. Trong khi đó, khả năng giải quyết việc làm trong nước còn nhiều hạn chế. Theo kết quả điều tra khác tại các doanh nghiệp 2001-2007, sau khi Việt Nam gia nhập WTO việc làm chỉ tăng 2,3. Con số năm 2007 là 3,4 triệu LĐ chủ yếu trong các ngành giày da, đồ gỗ, may mặc.
Việc chuyển dịch LĐ từ khu vực nông-lâm-thủy sản sang các ngành công nghiệp và dịch vụ ngày càng tăng. Tỷ trọng LĐ trong công nghiệp tăng từ 18,3 lên 19,2 và trong khu vực dịch vụ tăng từ 26,9 lên đến 28,6. Tỷ lệ thất nghiệp của lực lượng LĐ khu vực thành thị được cải thiện “chút ít” (giảm từ 5,1 xuống 4,9 ), nhưng điều đáng chú ý là tỷ lệ thất nghiệp trong thanh niên lại tăng lên. Số người thất nghiệp thuộc nhóm LĐ trẻ, từ 15 đến 24 tuổi, chiếm hơn 42 tổng số người thất nghiệp.
Tỷ lệ thất nghiệp trong số những người không được đào tạo là rất cao, tới 63,4. Trong năm 2007, thống kê cho thấy tỷ lệ lực lượng LĐ chưa qua đào tạo vẫn 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chiếm tới 65,25 tổng số LĐ cả nước. Lực lượng lao động giản đơn còn đông, lao động có k năng hạn chế; thừa lao động ở đồng bằng, thiếu lao động ở miền núi; lao động lành nghề chưa đáp ứng nhu cầu, đặc biệt là các ngành: điện tử, cơ khí chế tạo, điện, dầu khí. Đến năm 2008, tỷ lệ LĐ qua đào tạo khoảng 37 và qua đào tạo tay nghề khoảng 26.
Nhìn chung, trên thị trường LĐ hiện nay, cung LĐ vẫn lớn hơn cầu, sức ép về việc làm tương đối lớn, tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị năm 2007 là 4,91 , tỷ lệ thiếu việc làm ở khu vực nông thôn năm 2007 là 5,79 , LĐ tập trung chủ yếu ở khu vực nông thôn (chiếm 74,6 ). Phân bố lao động theo vùng thì ở vùng đồng bằng sông Hồng (22,3 ), đồng bằng sông Cửu Long (21,5%); trong khi đó, lực lượng lao động ở Tây Bắc chỉ chiếm 3,18 và Tây Nguyên chiếm 5,59 , nên chưa phát huy được lợi thế về đất đai, hạn chế tốc độ phát triển kinh tế cũng như tạo việc làm cho người lao động tại các vùng này, đồng thời, tạo ra dòng dịch chuyển lao động tự phát, ảnh hưởng đến tổ chức sản xuất và quá tải các công trình k thuật hạ tầng kinh tế - xã hội ở các vùng kinh tế phát triển. Đến năm 2008, tỷ lệ thất nghiệp của khu vực thành thị và tỷ lệ thiếu việc làm ở khu vực nông thôn đều tăng lên các mức tương ứng là 4,65 và 6,1 (xem bảng 1.2: Tỷ lệ thiếu việc làm khu vực thành thị và nông thôn thời kỳ 1996 - 2008 (%) Khu 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2007 2008 vực Nông 10,4 19,5 14,2 11,6 9,1 16,2 15,2 13,1 10,3 9,3 5,79 6,1 thôn Thành 9,2 9,3 9,0 8,4 6,6 8,4 8,6 7,7 5,7 4,5 - 2,34 thị Nguồn: Tổng cục Thống kê (2009), Niên giám thống kê 2008, Nxb. Thống kê, Hà Nội.
9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.3: Tỷ lệ thất nghiệp và tỷ lệ thiếu việc làm của lực lƣợng lao động trong độ tuổi năm 2008 phân theo vùng Tỷ lệ thất nghiệp ( ) Tỷ lệ thiếu việc làm ( ) Chung Thành Nông Chung Thành Nông thị thôn thị thôn CẢ NƢỚC 2.10 Đồng bằng sông 2.23 Hồng Trung du và miền núi 1.56 phía Bắc Bắc Trung Bộ và duyên Hải miền 2.34 Trung Tây Nguyên 1.65 Đông Nam Bộ 3.69 Đồng bằng sông Cửu 2.11 Long Nguồn: Tổng cục Thống kê (2009), Niên giám thống kê 2008, Nxb. Thống kê, Hà Nội. Tạo việc làm, giải quyết vấn đề thất nghiệp và sử dụng có hiệu quả nguồn LĐ dồi dào là một thách thức đối với nền kinh tế nước ta. Một trong những giải pháp tạo việc làm quan trọng, mang tính chiến lược là đẩy mạnh XKLĐ.
Cầu về lao động ở nhiều nước trên thế giới lại nhỏ hơn cung, tạo khả năng tiếp nhận người lao động Việt Nam tới làm việc 1. Những thị trường lao động truyền thống như: Ma-lai-xi-a, Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản. Lực lượng lao động của Ma-lai-xi-a có việc làm chiếm tỷ lệ cao, năm 2003 là 96,33 , năm 2007 là 96,77. Số LĐ Việt Nam làm việc ở Ma-lai-xi- a đạt đỉnh cao năm 2003, tới 38.227 người, sau đó giảm, đến năm 2006 lại tăng lên 37.
Do khủng hoảng tài chính toàn cầu, chính phủ Ma-lai- 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com xi-a chủ trương hạn chế nhận NLĐ NN để dành việc làm cho người trong nước, nên năm 2008 số LĐ Việt Nam sang đây chỉ có 7. Nhưng từ cuối năm 2009 kinh tế có dấu hiệu phục hồi, nhiều nhà máy ở Ma-lai-xi-a lại đối mặt với tình trạng thiếu nhân lực. Thí dụ: nhà máy Honsin lớn thứ ba bang Johore, chuyên sản xuất đồ thể thao Adidas và Nike để xuất khẩu sang Canada và M cần khoảng 1.500 công nhân, nhưng cuối năm 2009 nhà máy chỉ có 1.162 công nhân, trong đó có khoảng 720 LĐ nước ngoài, gồm 73 LĐ Việt Nam. [81] Ma-lai-xi-a là thị trường phù hợp với NLĐ Việt Nam, vì không đòi hỏi quá cao về chất lượng LĐ và mức chi phí trước khi đi làm việc thấp.
Theo đánh giá của nhiều chuyên gia, trong lĩnh vực XKLĐ, Ma-lai-xi-a được đánh giá là thị trường triển vọng cho XKLĐ Việt Nam những năm tới. Đài Loan là một trong những thị trường tiếp nhận nhiều NLĐ Việt Nam. Tính đến 3/2010 có khoảng hơn 80.000 NLĐ Việt Nam làm việc hợp pháp tại Đài Loan, trong đó gần 60.000 LĐ làm giúp việc gia đình và khán hộ công, thu nhập từ 500USD/tháng đến 700USD/tháng. Từ năm 2007, Đài Loan tạm dừng nhận LĐ Việt Nam giúp việc trong các gia đình, nguyên nhân chủ yếu là do tỷ lệ LĐ bỏ trốn khỏi nơi làm việc tương đối cao (10,13%).
Bộ LĐ-TB&XH có các giải pháp tạo điều kiện cho NLĐ hết hợp đồng được ký lại hợp đồng trực tiếp với người sử dụng LĐ; đồng thời tiếp tục chỉ đạo thực hiện các giải pháp ngăn chặn tình trạng NLĐ bỏ trốn ra ngoài làm việc, vận động phía Đài Loan tiếp nhận trở lại LĐ giúp việc gia đình. Do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính toàn cầu, số NLĐ Việt Nam sang Đài Loan làm việc năm 2009 có giảm, nhưng vẫn dẫn đầu so với số người đi sang các thị trường khác. Ba tháng đầu năm 2010, Đài Loan vẫn là thị trường tiếp nhận nhiều NLĐ Việt Nam (4. Nhiều chuyên gia nhận định đây vẫn là thị trường khá ổn định và có nhu cầu lớn về người nhập 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Theo điều tra của Ủy ban LĐ Đài Loan, tổng nhu cầu nhân lực của các doanh nghiệp cuối tháng 4 tăng khoảng 58. Sự bùng nổ của nền kinh tế Hàn Quốc từ năm 1980s đã khiến nước này thiếu hụt nhân công trầm trọng. Hiện tại, hàng năm trung bình Hàn Quốc cần tiếp nhận khoảng 50. Tỷ lệ có việc làm trong lực lượng LĐ Hàn Quốc khá cao: 96,44 và 96,77 năm 2007 [56, tr.