chương 1, em xin đề cập sâu hơn về phương thức thanh toán tín dụng chứng từ. 7 download by : skknchat@gmail.com Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Trần Điệp Kiều Ngân 1.2 Khái quát về phƣơng thức thanh toán tín dụng chứng từ 1.1 Khái niệm về phƣơng thức thanh toán tín dụng chứng từ Theo Nguyễn Minh Kiều (2006) cho rằng: “Tín dụng chứng từ là phương thức thanh toán trong đó một ngân hàng theo yêu cầu của khách hàng cam kết sẽ trả một số tiền nhất định cho người thụ hưởng hoặc chấp nhận hối phiếu do người này ký phát trong phạm vi số tiền đó nếu người này xuất trình được bộ chứng từ thanh toán phù hợp với những quy định nêu ra trong thư tín dụng”. Như vậy, thực chất tín dụng chứng từ là sự cam kết trả tiền của ngân hàng phát hành sẽ trả tiền cho người xuất khẩu nếu họ xuất trình cho ngân hàng đầy đủ chứng từ thể hiện việc hoàn thành nghĩa vụ đúng yêu cầu.
Thuật ngữ “tín dụng” ở đây được dùng theo nghĩa rộng là “tín nhiệm” chứ không phải để chỉ “một khoản cho vay” theo nghĩa thông thường. Điều này được thể hiện rõ trong trường hợp khi người nhập khẩu ký quỹ 100% giá trị của L/C, thì thực chất ngân hàng không cấp bất cứ một khoản tín dụng nào. Ngay trong trường hợp nhà nhập khẩu không hề ký quỹ thì một khoản tín dụng thực sự chỉ xảy ra khi ngân hàng phát hành L/C tiến hành trả tiền cho nhà xuất khẩu và ghi nợ nhà nhập khẩu. Như vậy, thuật ngữ “tín dụng” trong phương thức tín dụng chứng từ thể hiện khoản “tín dụng trừu tượng” bằng lời hứa trả tiền của ngân hàng thay cho lời hứa trả tiền của nhà nhập khẩu, vì ngân hàng có tín nhiệm hơn nhà nhập khẩu.2 Thƣ tín dụng - công cụ quan trọng trong phƣơng thức thanh toán tín dụng chứng từ 1.1 Khái niệm về thư tín dụng (L/C) Theo Nguyễn Đăng Dờn (2009) cho rằng: “Thư tín dụng (L/C - Letter of Credit) là một văn bản cam kết trả tiền có điều kiện, do một ngân hàng ký phát hành cho người xuất khẩu (người hưởng lợi nói chung) để cam kết trả tiền, hoặc chấp nhận trả tiền cho người xuất khẩu, nếu người xuất khẩu thực hiện đúng các điều kiện đã nêu trong L/C và được minh chứng bằng một BCT hợp lệ hợp pháp và được xuất trình đúng hạn”.2 Những nội dung cơ bản của thư tín dụng “Thư tín dụng bao gồm những điều khoản chủ yếu sau: - Số hiệu (Credit number) - Địa điểm mở thư tín dụng - Ngày mở của thư tín dụng (Date of issue) - Loại thư tín dụng 8 download by : skknchat@gmail.com Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS.
Trần Điệp Kiều Ngân - Tên và địa chỉ của những người liên quan đến việc thanh toán: ngân hàng mở thư tín dụng , ngân hàng thông báo thư tín dụng, ngân hàng trả tiền, ngân hàng xác nhận, ngân hàng chiết khấu - Số tiền của thư tín dụng - Thời hạn hiệu lực - Thời hạn trả tiền (Date of payment) - Thời hạn giao hàng (Date of shipment) - Các nội dung về hàng hoá như tên hàng, số lượng, trọng lượng, giá cả, quy cách phẩm chất, bao bì, ký, mã hiệu… - Các nội dung về vận tải, giao nhận hàng hoá như điều kiện cơ sở giao hàng (FOB, CIF, CFR), nơi gửi, nơi giao hàng, cách vận chuyển và cách giao hàng - Những chứng từ mà người xuất khẩu trình: + Hoá đơn thương mại (Commercial invoice) + Vận đơn đường biển (Bill of lading) + Bảo hiểm đơn (Insurance Policy) + Hối phiếu (Bill of exchange) + Phiếu đóng gói/phân loại (Packing list/Specification) + Giấy chứng nhận xuất xứ (Certificate of Origin) + Giấy chứng nhận trọng lượng + Chứng nhận giám định - Các điều khoản đặc biệt - Sự cam kết trả tiền của ngân hàng mở thư tín dụng - Chữ ký của ngân hàng mở thư tín dụng” (Võ Thị Thuý Anh, 2010) 1.3 Tính chất của thư tín dụng Theo Võ Thị Thuý Anh (2010) cho rằng : “Thư tín dụng có tính chất quan trọng là tính độc lập với hợp đồng. Theo điều 4 của UCP 600, Thư tín dụng được lập trên cơ sở hợp đồng thương mại, nhưng sau khi đã được thiết lập thì nó hoàn toàn độc lập với hợp đồng mua bán bởi vì việc thanh toán chủ yếu dựa vào chứng từ chứ không phụ thuộc vào hàng hoá. Vì thế cam kết trả tiền của ngân hàng không bị ràng buộc liên quan gì đến hợp đồng. Nếu nhà xuất khẩu giao hàng không đúng theo hợp đồng thì mọi tranh chấp sẽ do hai bên mua và bán tự giải quyết, ngân hàng miễn trách nhiệm.
Chỉ trong trường hợp 9 download by : skknchat@gmail.com Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Trần Điệp Kiều Ngân chứng từ không phù hợp mà ngân hàng vẫn cứ thanh toán cho nhà xuất khẩu thì ngân hàng phải chịu trách nhiệm hoàn toàn và người nhập khẩu có quyền từ chối thanh toán tiền lại cho ngân hàng”.4 Một số loại thư tín dụng Thƣ tín dụng có thể huỷ ngang (Revocable L/C) “Là một loại L/C mà ngân hàng và người nhập khẩu có thể sửa đổi hoặc huỷ bỏ tuỳ ý mà không cần báo cho người bán (hay người hưởng lợi L/C) biết trước. Cho đến nay loại L/C này chỉ tồn tại trên lý thuyết” (Võ Thị Thuý Anh, 2010). Thƣ tín dụng không thể huỷ ngang (Irrevocable L/C) “Là loại thư tín dụng sau khi đã được mở và người xuất khẩu thừa nhận thì ngân hàng mở L/C không được sửa bổ sung hoặc huỷ bỏ trong thời hạn hiệu lực của L/C, trừ khi có sự thoả thuận của các bên tham gia.
Theo UCP 500, nếu L/C không ghi loại gì thì được coi như là có thể huỷ ngang. Hiện nay loại thư tín dụng không thể huỷ ngang được sử dụng rộng rãi trong thanh toán quốc tế và được coi là loại L/C cơ bản nhất” (Võ Thị Thuý Anh, 2010). Thƣ tín dụng không thể huỷ ngang có xác nhận (Confirmed irrevocable L/C) “Là loại thư tín dụng không thể huỷ ngang được một ngân hàng khác xác nhận đảm bảo trả tiền theo yêu cầu của ngân hàng mở L/C. Trong hầu hết các trường hợp, trách nhiệm của ngân hàng xác nhận giống như của ngân hàng mở, do đó ngân hàng mở phải trả phí xác nhận, và có thể phải ký quỹ 100% giá trị L/C.
Do có hai ngân hàng đứng ra cam kết trả tiền nên loại L/C này chắc chắn nhất cho người xuất khẩu. Thông thường, trong trường hợp người xuất khẩu nghi ngờ khả năng thanh toán và uy tín của ngân hàng mở L/C thì họ sẽ chọn loại L/C này để đảm bảo quyền lợi của mình” (Võ Thị Thuý Anh, 2010). Thƣ tín dụng không thể huỷ ngang miễn truy đòi (Irrevocable without recourse L/C) “Là loại thư tín dụng mà sau khi mở người xuất khẩu đã được trả tiền thì ngân hàng mở L/C không có quyền đòi lại tiền ở người xuất khẩu trong bất cứ trường hợp nào. Loại thư tín dụng này cũng được sử dụng rộng rãi trong thanh toán quốc tế hiện nay.
Khi dùng loại L/C này, người xuất khẩu phải ghi trên hối phiếu câu “Miễn truy đòi lại người ký phát” (without recourse to drawer) và trong L/C cũng phải ghi như vậy” (Võ Thị Thuý Anh, 2010). 10 download by : skknchat@gmail.com Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Trần Điệp Kiều Ngân Thƣ tín dụng tuần hoàn (Revolving L/C) “Là thư tín dụng không thể huỷ ngang khi được thanh toán hết giá trị L/C hoặc hết thời hạn hiệu lực thì nó tự động có giá trị như ban đầu. Và cứ như vậy, nó tuần hoàn cho đến khi nào tổng giá trị hợp đồng được thực hiện xong.
Thư tín dụng tuần hoàn được áp dụng khi các bên tin cậy lẫn nhau, mua hàng thường xuyên, định kỳ, trị giá mỗi đợt thanh toán xấp xỉ nhau, khối lượng lớn và trong thời gian dài” (Võ Thị Thuý Anh, 2010). Thƣ tín dụng chuyển nhƣợng (Transferable L/C) “Là loại thư tín dụng không thể huỷ ngang trong đó quy định quyền của ngân hàng trả tiền (ngân hàng chuyển nhượng) được chuyển nhượng một phần hay toàn bộ giá trị L/C cho người thứ ba (có thể là một hay nhiều người) theo lệnh của người hưởng lợi đầu tiên. L/C này chỉ được chuyển nhương một lần. Chi phí chuyển nhượng thường do người hưởng lợi đầu tiên chịu.
Thư tín dụng có thể chuyển nhượng chỉ khi ngân hàng mở L/C ghi rõ “có thể chuyển nhượng” (transferable) và phải chỉ rõ ngân hàng chuyển nhượng” (Võ Thị Thuý Anh, 2010). Thƣ tín dụng giáp lƣng (Back to Back L/C) “Là thư tín dụng được mở dựa vào một L/C khác, nghĩa là sau khi nhận được L/C do người nhập khẩu mở, người xuất khẩu dùng L/C này để thế chấp mở L/C khác cho người hưởng lợi khác với nội dung gần giống L/C ban đầu. L/C mở sau được gọi là L/C giáp lưng” (Võ Thị Thuý Anh, 2010). Thƣ tín dụng dự phòng (Standby L/C) “Là loại thư tín dụng trong đó ngân hàng mở L/C cam kết với người nhập khẩu sẽ thanh toán lại cho họ trong trường hợp người xuất khẩu không hoàn thành nghĩa vụ giao hàng theo quy định của L/C, đồng thời sẽ bồi thường các khoản thiệt hại do mình gây ra cho nhà nhập khẩu” (Võ Thị Thuý Anh, 2010).
Thƣ tín dụng đối ứng (Recipocal L/C) “Là loại L/C không thể huỷ ngang trong đó quy định rằng nó chỉ có giá trị khi L/C khác đối ứng với nó được mở. Tuy vậy, thư tín dụng này không được ICC (International Chamber of Commerce) đưa vào danh sách các loại thư tín dụng. Thông thường, L/C đối ứng được sử dụng trong phương thức mua bán hàng đổi hàng hoặc trong thương mại gia công” (Võ Thị Thuý Anh, 2010). 11 download by : skknchat@gmail.com Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS.
Trần Điệp Kiều Ngân Thƣ tín dụng thanh toán dần dần (Deferred payment L/C) “Là loại thư tín dụng không thể huỷ ngang trong đó ngân hàng mở (và ngân hàng xác nhận nếu có) cam kết với người hưởng lợi sẽ thanh toán dần dần toàn bộ giá trị L/C trong những thời hạn quy định rõ trong L/C” (Võ Thị Thuý Anh, 2010). Thƣ tín dụng có điều khoản đỏ (Red clause L/C) “Là sự uỷ quyền của ngân hàng mở L/C cho ngân hàng chiết khấu ứng trước một khoản tiền cho người hưởng lợi L/C (người xuất khẩu) để người này có vốn thực hiện mua hàng theo nội dung L/C mở. Theo tín dụng người xuất khẩu có quyền đòi một số tiền ứng trước vào khoản thanh toán sau này mà người xuất khẩu được hưởng khi họ xuất trình bộ chứng từ thanh toán” (Võ Thị Thuý Anh, 2010).