MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trong nền kinh tế thị trường của nước ta hiện nay, đặt biệt sau khi Việt Nam gia nhập WTO, tình hình thị trường cạnh tranh rất khốc liệt. Đó cũng là vì cung đã thực sự đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng. Thị trường hàng hóa ngày càng phong phú và đa dạng cả về sản phẩm trong và ngoài nước.
Mỗi sản phẩm đều có không ít đối thủ cạnh tranh. Để tổn tại và phát triển trong thị trường thì ngoài việc doanh nghiệp có mẫu mã đẹp, chất lượng tốt thì giá cả phải đáp ứng phù hợp với nhu cầu thị hiếu của người tiêu dùng. Giá bán ngày càng giữ vai trò quan trọng vì nó chính là công cụ cạnh tranh sắc bén của doanh nghiệp để loại những sản phẩm cùng loại ra khỏi thị trường. "Làm sao để có giá bán hợp lý?" là câu hỏi được mỗi doanh nghiệp quan tâm.
Với giá bán nào công ty vừa bán được nhiều hàng vừa làm ăn có hiệu quả thì các nhà quan trị cần phải quan tâm đến việc hoạch định và kiểm soát chỉ phí, điều đó có ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả kinh doanh, Kế toán chỉ phí - một bộ phận của hệ thống kế toán doanh nghiệp —- đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp thông tin về chi phí, giúp cho nhà quần trị hoạch định, kiểm soát chi phí, ra quyết định trong kinh doanh và phục vụ cho việc lập báo cáo tài chính của doanh nghiệp. Vì thế kế toán chỉ phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm là một bộ phận không thể thiếu của mỗi doanh nghiệp. Giá thành sản phẩm với các chức năng vốn có đã trở thành chỉ tiêu kinh tế có ý nghĩa rất quan trọng trong quản lý hiệu quả và chất lượng sản xuất kinh doanh. Có thể nói rằng giá thành sản phẩm là tấm gương phản chiếu toàn bộ các biện pháp kinh tế, tổ chức quản lý và kỹ thuật của doanh nghiệp đã và đang thực hiện trong quá trình sản xuất kinh đoanh.
Hạch toán giá thành liên quan đến hầu hết các yếu tố đầu vào và đầu ra trong quá trình sản xuất kinh doanh. Do đó, việc hạch toán giá thành đòi hỏi phải chính xác, kịp thời, phù hợp với đặc điểm hình thành và phát sinh chi phí của doanh nghiệp. Từ những nhận định trên cho thấy được tâm quan trọng và sự cần thiết của việc hạch toán chỉ phí sản xuất và tính giá thành trong doanh nghiệp nên tôi chọn để tài nghiên cứu "Hạch toán chỉ phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ Phần Công Nghiệp Vĩnh Tường" làm khóa luận tốt nghiệp cho mình. - Việc nguyên cứu để tài này sẽ giúp hiểu rõ hơn về công tác kế toán chỉ phí và tính giá thành tại Công ty, tìm hiểu xem tổ chức hệ thống kế toán tại Công ty và lý thuyết về kế toán đã được học giống và khác nhau như thế nào.
Dé tài cũng đưa ra một số kiến nghị về phương pháp hạch toán và một số biện pháp hạ giá thành sản phẩm, tạo cơ sở cho doanh nghiệp có thể hạ giá thành sản phẩm, tiết kiệm vốn cố định do đoanh nghiệp tập trung được công suất của máy móc thiết bị, tạo lợi thế cạnh tranh trên thị trường. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài Tìm hiểu thực tế về cách thức tổ chức công tác kế toán chỉ phí sản xuất và tính già thành sản phẩm tại Công ty. Đưa ra một số giải pháp hoàn thiện công tác kế toán chỉ phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm, biện pháp tiết kiệm chỉ phí, hạ giá thành sản phẩm. Nội dung nghiên cứu Kế toán chỉ phí nguyên vật liệu trực tiếp.
Kế toán chi phí nhân công trực tiếp. Kế toán chỉ phí sản xuất chung. Tập hợp chi phí và tính giá thành bán thành phẩm tole phôi, sản phẩm khung trần nổi VT610TK, phụ kiện PK21AB, tấm thạch cao in lụa trơn VT50, | ¡ 4. Phương pháp nghiên cứu Phương pháp phỏng vấn: -_ Phống vấn trực tiếp các Anh, Chị ở phòng kế toán để tìm hiểu về cách thức tập hợp chi phí, phương pháp tính giá thành mà công ty đang áp dụng.
- Tim hiéu tinh hình thực tế tại các khâu của dây chuyển sản xuất để có cái nhìn tổng thể về quy trình sản xuất. Phương pháp thu thập số liệu: _=_ Thu thập số liệu thực tế. - Tham khdo sdch bdo, tai liệu có liên quan đến dé tài nguyên cứu. Phương pháp xử lý số liệu: Dùng phương pháp so sánh, đối chiếu, tổng hợp các số liệu liên quan đến chỉ phí tính giá thành.
Phạm vỉ nghiên cứu Sản phẩm chính hiện nay của công ty gồm 500 sản phẩm các loại, với 3 nhóm sản phẩm: sản phẩm tấm trần trang trí, sản phẩm khung, sản phẩm phụ kiện và trong mỗi nhóm có các dòng sản phẩm khác nhau.tuy nhiên, do thời gian và khả năng hạn chế nên trong phạm vi nghiên cứu của để tài em chỉ tập trung vào hạch toán chí phí và tính giá thành bán thành phẩm tole phôi, sản phẩm khung trần nổi VT610TK, phụ kiện PK21AB, tấm thạch cao in lụa trơn VT50 trong kỳ kế toán nhất định (tháng 1/2008). CHUONG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM 1.1 NHUNG NOI DUNG CO BAN VE CHI PHI SAN XUAT VA TINH GIA THÀNH SAN PHAM TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT. Chi phi sain xUat oe .- «5s nh TT HH HH HH HÀ 8011411418812 11 4 1.2 Phân loại chi phí sẩn xuất .1 Theo chức năng hoạt động .2 Theo nội dung kinh tẾ.3 Theo mối quan hệ giữa chỉ phí với các khoản mục trên báo cáo tài CHINN .4 Theo một số tiêu thức khác .2 Gid thamh sAn phan.3 Mối quan hệ giữa chỉ phí sản xuất và giá thành sản phẩm .2 NỘI DUNG KẾ TOÁN CHI PHi SAN XUẤT VÀ TÍNH GIA THANH SAN 79807 6 10 1.1 Tập hợp chỉ phí sản xuất. cọ HH HH1.1 Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất.2 Phương pháp tập hop chi phí sản xuất.2 Tổng hợp chỉ phí sẩn xuất.-- St tt ven 11 1.3 Kỳ hạn tính giá thành 1.4 Tính giá sản phẩm dở dang cuối kỳ.5 Vận dụng phương pháp tính giá thằnh.1 Phương pháp trực tIẾp.2 Phương pháp phân bước .3 Phương pháp đơn đặt hàng.
uc HH re.4 Phương pháp định mỨC .-- - 5 SH nh ri, 15 CHUONG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM 1.1 NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP SẲN XUẤT 1.1 Chi phí sản xuất 1.1 Khái niệm Chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiễn của toàn bộ các hao phí về lao động sống và lao động vật hóa mà doanh nghiệp đã bỏ ra để thực hiện quá trình sản xuất sản phẩm cho một thời kỳ nhất định. Chi phí sắn xuất có các đặc điểm: vận động, thay đối không ngừng, mang tính đa dạng và phức tạp gắn liển với tính đa dạng và phức tạp của mỗi ngành nghề sản xuất, quy trình sản xuất.2 Phân loại chỉ phí sản xuất Phân loại chi phí sản xuất là nội đung quan trọng đầu tiên cần phải thực hiện để phục vụ cho việc tổ chức theo đõi, tập hợp chi phi sin xuất để tính được giá thành sản phẩm và kiểm soát được chặt chế các loại chỉ phí sản xuất phát sinh, Để phục vụ cho công tác kế toán tài chính, chi phí sản xuất, kinh doanh được phân loại theo tiêu thức sau: 1.1 Theo chức năng hoạt động Đây là cách phân loại phổ biến nhất vì nó mang tính rõ ràng và chỉ tiết. Chi phí được chia thành hai loại: % Chỉ phí sản xuất: là chi phí hình thành nên giá trị của sản phẩm sản xuất, gồm 3 loại: a. Chỉ phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp: bao gồm tất cả chi phí về nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu được sử dụng trực tiếp cho quá trình sắn xuất sản phẩm.
Nguyên liệu, vật liệu chính sử dụng để sản xuất ra nhiều loại sản phẩm nhưng không thể xác định được mức tiêu hao thực tế cho từng loại sản phẩm (hoặc đối tượng chịu chi phí), do đó kế toán phải tiến hành phân bổ theo tiêu thức phù hợp như: định mức tiêu hao cho từng loại sản phẩm, hệ số phân bổ được quy định, tỷ lệ với trọng lượng sản phẩm được sẵn xuất. Chỉ phí nhân công trực tiếp: gồm tất cả các khoản chỉ phí liên quan đến bộ phận lao động trực tiếp sản xuất sản phẩm như: tiễn lương, tiền công, các khoản phụ cấp, các khoản trích về BHXH, BHYT và KPCP tính vào chỉ phí theo quy định. Chi phí nhân công trực tiếp, chủ yếu là tiên lương công nhân trực tiếp, được hạch toán trực tiếp vào từng đối tượng chịu chỉ phí. Tuy nhiên, nếu tiền lương công nhân trực tiếp liên quan đến nhiễu đối tượng chịu chỉ phí và không xác định một cách trực tiếp cho từng đối tượng thì phải tiến hành phân bổ theo những tiêu thức phù hợp như: định mức tiền lương của các đối tượng, hệ số phân bổ được quy định, số giờ hoặc ngày công tiêu chuẩn.
Chí phí sản xuất chung: là chỉ phí phục vụ và quản lý sản xuất gắn liền với từng phân xưởng sản xuất. Chỉ phí sản xuất chung là chỉ phí tổng hợp gồm các khoản: chỉ phí nhân viên phân xưởng, chỉ phí khấu hao TSCĐ dùng ở phân xưởng, chỉ phí dịch vụ mua ngoài và các khoản chỉ phí khác bằng tiền dùng ở phân xưởng:. Chi phí này được tập hợp theo từng phân xưởng sản xuất hoặc bộ phận sản xuất kinh doanh. Việc tập hợp hàng tháng và cuối mỗi tháng mà tiến hành phân bổ và kết chuyển vào đối tượng hạch toán chỉ phí.
Chỉ phí sẵn xuất chung có 4 đặc điểm: - Gồm nhiều khoản mục khác nhau - Các khoản mục chỉ phí thuộc chỉ phí sản xuất chung đều có tính chất gián tiếp với từng đơn vị nên không tinh trực tiếp vào sản phẩm, dịch vụ phục vụ. - Chỉ phí sản xuất chung gồm cả biến phí, định phí và cả chi phí hỗn hợp. Trong đó định phí chiếm tỷ lệ cao nhất. - Do có nhiều khoản mục chi phí nên chúng được nhiều bộ phận khác nhau quản lý và rất khó kiểm soát.
- Đối với phần chỉ phí sản xuất chung cố định thì được tính vào chỉ phí chế biến cho mỗi đơn vị sản phẩm theo mức công suất bình thường, nếu mức sản xuất thực tế thấp hơn công suất bình thường thì vẫn phải tính cho đơn vị sản phẩm theo mức công suất bình thường. Phân chỉ phí sản xuất chung không phân bổ được ghi nhận vào giá vốn hàng bán trong kỳ.