chương 1 – mô tả các công cụ của phương pháp PRA và các chương tiếp theo với các nội dung về văn hóa vật chất, vă hóa tinh thần, thiết chế xã hội của người Thái trong quá khứ cũng như hiện tại 1.5 Ứng dụng các kỹ thuật phƣơng pháp PRA 1.1 Thiết lập lịch trình Trong khi việc sử dụng lịch mùa vụ của người dân ở bản Khoan hữu ích cho sắp xếp kế hoạch cho các hoạt động, chúng tôi phải xác định khoảng thời gian tốt nhất để thực hiện các hoạt động này – các khoảng thời gian này phải vào lúc nông nhàn (không cấy, hái hay thu hoạch cây trồng). Để làm được điều này chúng tôi phải nghiên cứu các tài liệu đã có trước bằng cách yêu cầu đối tác địa phương cung cấp, qua đó chúng tôi nhận thấy lịch phù hợp nhất cho chúng tôi và họ khoảng tháng 7 lịch âm, trước thời gian thu hoạch. Đây là khoảng thời gian người dân có thể tạm gác sản xuất và tham gia nghiên cứu để đảm bảo tính linh hoạt cho các đối tác địa phương và người dân cam kết tham gia dự án. Trong thời gian này, các đối tác của chúng tôi xem xét và thực hiện các hoạt động nhằm đạt được hiệu quả trong một khoảng thời gian ngắn và tập trung.
21 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com LỊCH MÙA VỤ CỦA NGƯỜI DÂN Âm lịch Lịch Thái Công việc chính trong năm Tháng Giêng Bơn nưng - Tháng con hổ (xưa) Ăn tết Nguyên đán, gieo mạ và cấy lúa vụ chiêm, phát nương lúa, trồng ngô trồng Tháng Hai Bơn xoong - bông, trồng sắn, trỉa ngô,. Tháng con mèo (miếu) Tháng Ba Bơn sam - Tháng con Trỉa lúa nương, làm cỏ ngô, vun xới ngô, rồng (luống) làm cỏ lúa nương và lúa ruộng, thanh minh. Tháng Tư Bơn xí - Tháng con rắn (ngú) Tháng Năm Bơn hả - Tháng con Thu hoạch lúa ruộng chiêm, gieo mạ, cấy ngựa (mạ) lúa vụ mùa, trồng các loại đậu, lạc, vừng và rau mùa hè, hái thuốc nam, làm cỏ lúa Tháng Sáu Bơn hôốc - Tháng con dê nương, thu hoạch ngô,… (vẻ) Tháng Bảy Bơn chết - Tháng con khỉ Làm cỏ và chăm bón lúa vụ mùa. (hính) Tháng Tám Bơn pét - Tháng con gà Chuẩn bị kho, dụng cụ lao động để thu (cáy) hoạch, thu hoạch lúa nương sớm, ăn cơm Tháng Chín Bơn cẩu - Tháng con chó mới, trồng các loại rau vụ đông, thu hoạch đỗ, bông, đi săn.
(ma) 22 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tháng Mười Bơn xíp - Tháng con lợn Tiếp tục thu hoạch lúa nương, thu hoạch (mu) lúa ruộng mùa, cưới xin, đi săn. Tháng Một Bơn xíp ết - Tháng con Tiếp tục thu hoạch lúa màu, chuẩn bị đất chuột (nu) cho vụ chiêm, sửa nhà, đi săn. Tháng Chạp Bơn xíp xoong - Tháng Chuẩn bị ăn tết Nguyên đán.2 Làm việc với đối tác Địa phƣơng – những ngƣời dân tham gia nghiên cứu thực địa Các thành viên trong nhóm nghiên cứu phải là cư dân của bản, nơi diễn ra nghiên cứu thực địa là đại diện của các nhóm với các độ tuổi khác nhau của dân số để đạt được hiệu quả cộng đồng thông qua các thảo luận nhóm nhỏ để tác giả có thể so sánh và tìm thấy sự liên quan văn hóa giữa các nhóm người dân khác nhau. Bên cạnh đó, tôi lựa chọn và xây dựng một nhóm các “nhà nghiên cứu địa phương” sẽ không có kiến thức chuyên môn về văn hóa (cụ thể: họ không phải là phù thủy, pháp sư, nhạc sĩ, giáo viên, v.v…) để tập huấn cho họ cách sử dụng những công cụ của phương pháp PRA.
Những “nhà nghiên cứu địa phương” ở đây được hiểu chính là người dân tại cộng đồng bản Khoan tham gia trực tiếp vào nghiên cứu này. Họ sẽ trở thành những người “chủ chốt” (key person) trong việc hỗ trợ những thành viên trong cộng đồng chia sẻ những hiểu biết về văn hóa dân tộc, kể về lịch sử của cộng đồng. Họ sẽ tự tổ chức các buổi nghiên cứu - với sự hỗ trợ của chúng tôi - với sự tham gia của người dân và không sử dụng những bài “rao giảng cũ kỹ” buồn chán với nhiều lý thuyết. Chúng tôi cùng nhau xây dựng tiêu chí lựa chọn những người tham gia các nhóm thảo luận như có kỹ năng giao tiếp tốt và cam kết đặt lợi ích của cộng đồng lên trên hết.
23 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Những nhà nghiên cứu địa phương sẽ nghiên cứu văn hóa của cộng đồng mình – Văn hóa Thái - với sự tham gia của 7 người địa phương: 3 phụ nữ và 4 nam giới, độ tuổi từ 35-57 tuổi, những người được chọn này sống trong bản Khoan. Nhóm nghiên cứu này sau khi được tập huấn một số công cụ của PRA, sẽ được phân công trách nhiệm tổ chức và tiến hành buổi làm việc trong bản. Trình độ văn hóa của các nhà nghiên cứu văn hóa địa phương xếp từ lớp 4 tới cấp trung học. Trong đó có sự thiên lệch về giới không thuận lợi với các chị phụ nữ tham gia nhóm, khi họ là những người có trình độ văn hóa thấp nhất.
Họ gặp những khó khăn khi phải ghi chép vào vở, hay khi đứng viết ở trên bảng, nhưng điều này cũng dễ dàng khắc phục khi họ mạnh dạn trình bày bằng miệng những ý kiến và tiến hành điều khiển các buổi làm việc trong thời gian nghiên cứu thực địa. Những nhà nghiên cứu – như chúng tôi - sử dụng những phân tích, nhận định khi tham gia song hành vào các hoạt động của các nhà nghiên cứu địa phương để đưa ra những thúc đẩy, giúp người dân tự nhận thức, phát hiện các vấn đề của mình, tìm nguyên nhân và đề xuất các giải pháp khắc phục 1.3 Đào tạo kỹ năng sử dụng công cụ PRA cho các nhà nghiên cứu địa phƣơng Tương tự như việc xây dựng kế hoạch thời gian làm việc, việc đào tạo những người dân tham gia nhóm nghiên cứu phải thích ứng với thời gian và khả năng học tập của họ. Chúng tôi ưu tiên trên hết là họ phải hiểu rõ về các mục tiêu nghiên cứu, phương pháp, và lập thời gian biểu phù hợp với ngôn ngữ, các chuẩn mực, phong tục tập quán của họ, để chắc chắn rằng cộng đồng sẽ không hiểu sai mục tiêu của dự án lúc làm việc. Nghiên cứu văn hóa có sự tham gia có thể sử dụng cùng lúc các công cụ PRA (bản đồ theo mùa lịch, lịch sử thôn bản, ma trận) cũng như các công cụ nghiên cứu có sự tham gia cổ điển (phỏng vấn), nhưng để hoàn thành nghiên cứu văn hóa cần các công cụ bổ sung khác nữa.
Ví dụ như: Một bài tập thiên về kiến thức của cá 24 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhân để thu thập các thông tin về văn hóa và kiến thức vốn có; Một cuộc thảo luận nhóm để thảo luận về nền văn hóa của cả cộng đồng. Khi chúng tôi không có nhiều thời gian cho việc đào tạo, ba công cụ đã được sử dụng để lựa chọn các thông tin cơ bản: bản đồ dân số, lịch mùa vụ và bài tập kiến thức của cá nhân về văn hóa. Họ đã đạt được sự hiểu biết khá tốt về ba công cụ và không muốn học thêm các kỹ thuật khác. Họ đã xây dựng được một bộ ba câu hỏi để tiếp tục cuộc nghiên cứu: (1) Người Thái là ai ? Người Thái sống ở đâu và sống với ai? (2) Người Thái làm cái gì? Làm thế nào để họ sử dụng thời gian của họ trong năm? (3) Văn hóa Thái là những cái gì? Chỉ sau khi đã tiến hành một buổi làm việc tại bản, đối tác đã đạt được sự tự tin như là những người điều hành cộng đồng: (1) họ đã học công cụ mới một cách nhanh chóng, (2) đề xuất các vấn đề khác và tìm ra những cách khác để tìm kiếm thông tin và ngày càng trở nên nhìn nhận cẩn trọng về các kết quả đạt đượ cũng như về phương pháp này.
Một nhà nghiên cứu được đào tạo có thể bình luận kết quả nghiên cứu và giải thích thêm về các lĩnh vực nghiên cứu mà cộng đồng địa phương không có kỹ thuật để có thể làm việc này. Chẳng hạn họ thiếu điều kiện để tiếp cận với các văn bản tài liệu nói về văn hóa của họ.4 Tiến hành khảo sát thực địa Sự tham gia của các đối tác địa phương là điều cần thiết vì nó mang lại tính chính đáng giữa họ và cuộc nghiên cứu. Một trong những điểm cụ thể phải rõ ràng: sự tham gia của tất cả là cần thiết và tiếng nói của mỗi người là như nhau. Trong nghiên cứu thực địa, đối tác người Thái lo lắng về sự thiếu hiểu biết của mình khi trở thành nhà nghiên cứu.
Họ đã yêu cầu chúng tôi tổ chức các cuộc họp nhóm và giới thiệu cho họ là các nhà nghiên cứu ở cấp làng/bản. Đối tác địa phương tiến hành 25 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com làm các buổi làm việc bằng ngôn ngữ người kinh nhằm tạo thuận lợi cho việc hiểu ý nghĩa của câu hỏi, câu trả lời của người cao tuổi và phụ nữ và của cả chúng tôi. Họ tiến hành tổ thực hiện các công cụ đã được học trong thảo luận nhóm tại cộng đồng. Những người tham dự đã tham gia tích cực trong các bài tập, khi một người có học vấn cao hơn và có xu hướng trình bày nhiều tại cuộc thảo luận thì lại cần sự can thiệp và những hoạt động thu hút sự tham gia của những người khác được các nhà nghiên cứu địa phương khéo léo thể hiện.
Người được giao nhiệm vụ ghi chép thậm chí ghi không đủ thông tin vì cô ấy đã ghi chú nhiều đến ý kiến của cá nhân hơn là ghi chú các ý kiến của cả nhóm. Các buổi làm việc này đã thu hút sự quan tâm của người dân đó là sự hiểu biết và kiến thức cá nhân về văn hóa mà bao gồm tất cả các hình thức khác nhau như lối sống sinh hoạt, vật chất, hành vi chính trị-xã hội, niềm tin huyền bí về tín ngưỡng mang đậm nét truyền thống cũng như sự thay đổi của nó theo dòng thời gian. Sau các buổi làm việc các thành viên thuộc nhóm các nhà nghiên cứu địa phương sẽ cùng trao đổi lại với tác giả để có thể rút ra nhũng kinh nghiệm điều hành cho các buổi thảo luận sau. Đồng thời họ cũng giúp tác giả thu thập các thông tin khác và kiểm tra lại những thông tin tác giả thu thập được, với sự hỗ trợ tương tác qua lại như vậy đã giúp cho nghiên cứu đạt được những kết quả khả quan.