Luận văn ThS Trần Thị Hằng: Ứng dụng GIS phân vùng lập địa Sơn Tra Sơn La

Luận văn ứng dụng GIS phân tích điều kiện lập địa, khoanh vùng đất thích nghi trồng Sơn tra (Docynia indica) tại Sơn La, tối ưu quy hoạch nông nghiệp.

Trường đại học

Trường Đại học Lâm nghiệp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2014

81
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

Lời cảm ơn

Danh mục các từ viết tắt

Danh mục các bảng

Danh mục các hình

ĐẶT VẤN ĐỀ

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Trên thế giới

1.2. Nghiên cứu phát triển cây Sơn tra

1.3. Nghiên cứu phân vùng điều kiện lập địa

1.4. GIS và ứng dụng trong phân vùng điều kiện lập địa

1.5. Nghiên cứu phát triển cây Sơn tra

1.6. Nghiên cứu phân vùng điều kiện lập địa

1.7. GIS và ứng dụng trong phân vùng điều kiện lập địa

2. CHƯƠNG 2: MỤC TIÊU, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Mục tiêu nghiên cứu

2.2. Mục tiêu chung

2.3. Mục tiêu cụ thể

2.4. Nội dung nghiên cứu

2.5. Phương pháp nghiên cứu

2.6. Cách tiếp cận nghiên cứu

2.7. Phương pháp ngoại nghiệp

2.8. Phương pháp nội nghiệp

3. CHƯƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM KHU VỰC NGHIÊN CỨU

3.1. Đặc điểm điều kiện tự nhiên

3.2. Vị trí địa lý

3.3. Tài nguyên đất

3.4. Khí hậu, thuỷ văn

3.5. Tài nguyên rừng

3.6. Tài nguyên khoáng sản

3.7. Đặc điểm kinh tế - xã hội

3.8. Đặc điểm kinh tế

3.9. Đặc điểm xã hội

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1. Đặc điểm sinh cảnh và phân bố tự nhiên của cây Sơn tra

4.2. Đặc điểm sinh cảnh của cây Sơn tra

4.3. Phân bố tự nhiên cây Sơn tra tại khu vực nghiên cứu

4.4. Các nhân tố sinh thái ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển của cây Sơn tra

4.5. Các nhân tố địa hình và thổ nhưỡng

4.6. Nhân tố khí hậu

4.7. Xây dựng bản đồ phân vùng lập địa thích nghi cho trồng cây Sơn tra tại khu vực nghiên cứu

4.8. Phân cấp thích nghi theo từng nhân tố sinh thái

4.9. Xây dựng bản đồ phân vùng thích nghi theo từng nhân tố sinh thái

4.10. Xây dựng bản đồ phân vùng lập địa thích nghi của cây Sơn tra

4.11. Đánh giá độ tin cậy của bản đồ

4.12. Sinh trưởng của Sơn tra tại các khu vực điều tra

4.13. Sản lượng của Sơn tra tại các khu vực điều tra

4.14. Đánh giá độ tin cậy của bản đồ

4.15. Đề xuất quy hoạch trồng Sơn tra trên địa bàn tỉnh Sơn La

4.16. Xác định diện tích đất chưa sử dụng

4.17. Xây dựng bản đồ quy hoạch trồng cây Sơn tra

4.18. Đề xuất quy hoạch vùng trồng Sơn tra

KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. GIS và Phân vùng Lập địa Giải pháp cho Sơn Tra Sơn La

Sơn La, tỉnh miền núi phía Bắc, có tiềm năng lớn về đất rừng. Tuy nhiên, cây Sơn Tra, một loại cây đặc sản, đang bị khai thác quá mức. Tỉnh Sơn La nhận thấy sự cần thiết của việc trồng Sơn Tra trên các diện tích đất trống để tăng thu nhập cho người dân và tạo vùng nguyên liệu. Phân vùng lập địa là biện pháp quan trọng để lựa chọn vùng trồng phù hợp. Trên thế giới, phương pháp ứng dụng Hệ thống thông tin địa lý (GIS) được sử dụng rộng rãi để đánh giá và phân vùng đất đai. GIS là công nghệ hữu hiệu để lưu trữ, phân tích và quản lý dữ liệu không gian, giúp lựa chọn cây trồng phù hợp. Đề tài “Ứng dụng GIS phân vùng điều kiện lập địa thích nghi cho trồng cây Sơn Tra (Docynia indica) trên địa bàn tỉnh Sơn La” được thực hiện nhằm nâng cao hiệu quả quy hoạch rừng trồng Sơn Tra.

1.1. Tổng quan về cây Sơn Tra và giá trị kinh tế

Cây Sơn Tra (táo mèo) là cây phân bố trong rừng tự nhiên có giá trị cao về mặt kinh tế, dược liệu. Các mô hình trồng cây Sơn Tra trồng ở những vùng có điều kiện lập địa gần giống với điều kiện nơi phân bố tự nhiên thì cho quả to, vỏ mịn, không có vị chát. Các mô hình trồng cây Sơn Tra trồng ở những vùng có điều kiện lập địa khác xa so với điều kiện nơi phân bố tự nhiên thì cho chất lượng quả nhỏ, có vị chát dẫn đến giảm khả năng cạnh tranh trên thị trường.

1.2. Vai trò của GIS trong quy hoạch nông nghiệp bền vững

Trong nông nghiệp các yếu tố dùng để phân hạng thường là loại đất, các tính chất quan trọng liên quan năng suất cây trồng như: Độ pH, hàm lượng chất hữu cơ, các chất dễ tiêu N, P, K, v. Cách phân hạng thường dựa vào phương pháp cho điểm theo thang 10 điểm hoặc 50, 100 điểm. GIS giúp cho các cơ quan quản lý nhà nước, các doanh nghiệp, cho tổ chức, cá nhân… đánh giá được hiện trạng của các quá trình, các thực thể tự nhiên, kinh tế, quốc phòng qua các chức năng thu thập, quản lý, truy vấn, phân tích và tích hợp các thông tin gắn với một nền hình học nhất quán trên cơ sở toạ độ của các dữ liệu đầu vào.

II. Thách thức và Giải pháp Ứng dụng GIS cho Sơn Tra Sơn La

Các dự án hỗ trợ phát triển Sơn Tra ở Sơn La gặp khó khăn trong việc lựa chọn điều kiện lập địa thích nghi. Để giải quyết vấn đề này, cần phân vùng lập địa thích nghi cho trồng cây Sơn Tra. Trên thế giới, đã có nhiều công trình áp dụng các phương pháp khác nhau trong đánh giá đất đai, phân vùng điều kiện lập địa thích nghi cho cây trồng. Trong đó, phương pháp ứng dụng hệ thống thông tin địa lý (GIS) đánh giá đa tiêu chí là phương pháp phổ biến nhất. GIS được ứng dụng ở Việt Nam từ những năm 1980, là công nghệ hữu hiệu cho việc lưu trữ, phân tích và quản lý dữ liệu không gian và được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực, bao gồm phân hạng đất đai và phân vùng thích nghi đa tiêu chí cho việc lựa chọn cây trồng phù hợp.

2.1. Vấn đề lựa chọn điều kiện lập địa thích nghi cho Sơn Tra

Các dự án hỗ trợ phát triển Sơn tra của tỉnh Sơn La đều khó khăn trong việc lựa chọn điều kiện lập địa thích nghi. Các mô hình trồng cây Sơn tra trồng ở những vùng có điều kiện lập địa gần giống với điều kiện nơi phân bố tự nhiên thì cho quả to, vỏ mịn, không có vị chát. Các mô hình trồng cây Sơn tra trồng ở những vùng có điều kiện lập địa khác xa so với điều kiện nơi phân bố tự nhiên thì cho chất lượng quả nhỏ, có vị chát dẫn đến giảm khả năng cạnh tranh trên thị trường.

2.2. Phương pháp đánh giá đa tiêu chí bằng GIS để phân vùng lập địa

Trong nông nghiệp các yếu tố dùng để phân hạng thường là loại đất, các tính chất quan trọng liên quan năng suất cây trồng như: Độ pH, hàm lượng chất hữu cơ, các chất dễ tiêu N, P, K, v. Cách phân hạng thường dựa vào phương pháp cho điểm theo thang 10 điểm hoặc 50, 100 điểm.

2.3. Kinh nghiệm quốc tế về ứng dụng GIS trong phân vùng lập địa

Ví dụ, năm 2003, nghiên cứu ứng dụng GIS trong đánh giá đất đai tại East Park County, Wyoming đã chỉ rõ GIS là một công cụ nhanh chóng, linh hoạt và cập nhật phương pháp tiếp cận để hỗ trợ các quyết định quản lý đất đai.Hoặc,Trường Viễn Thám của trường Đại học Anna, Chennai đã ứng dụng GIS và Viến thám đánh giá sự thích hợp đất nông nghiệp cho trồng lúa và mía đường tại huyện Vellore sử dụng các nhận tố độ dốc, kiểu đất, độ sâu, kết cấu đất, độ ẩm đất, nguồn nước, lượng mưa trung bình năm, số tháng khô để đánh giá.

III. Hướng dẫn Phân vùng Lập địa Ứng dụng GIS cho Sơn Tra

Nghiên cứu tập trung vào việc xây dựng bản đồ phân vùng thích nghi của cây Sơn Tra tại Sơn La sử dụng GIS. Quá trình nghiên cứu bao gồm: Nghiên cứu đặc điểm sinh cảnh và phân bố tự nhiên của cây Sơn Tra, Nghiên cứu các nhân tố sinh thái ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển của cây Sơn Tra, Xây dựng bản đồ phân vùng lập địa thích nghi cho trồng cây Sơn Tra, Đánh giá tính thích nghi của bản đồ phân vùng thích nghi trồng rừng Sơn Tra và Đề xuất quy hoạch vùng trồng Sơn Tra tại tỉnh Sơn La.

3.1. Thu thập dữ liệu và xây dựng cơ sở dữ liệu GIS cho Sơn Tra

Cơ sở dữ liệu về điều kiện lập địa gồm: Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Sơn La, Bản đồ địa hình tỉnh Sơn La, Bản đồ thổ nhưỡng tỉnh Sơn La, Bản đồ hiện trạng sử dụng đất tỉnh Sơn La, Số liệu lượng mưa, nhiệt độ, độ ẩm và Các tài liệu hướng dẫn kỹ thuật trồng Sơn tra.

3.2. Phân tích và đánh giá các nhân tố sinh thái ảnh hưởng đến Sơn Tra

Các nhân tố sinh thái ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển của cây Sơn tra được lựa chọn bao gồm: độ cao, độ dốc, độ dày tầng đất, nhiệt độ, lượng mưa và độ ẩm.

IV. Kết quả Nghiên cứu Phân vùng Lập địa cho Sơn Tra Sơn La

Nghiên cứu đã xác định các vùng phân bố tự nhiên của cây Sơn Tra tại Sơn La, chủ yếu ở các xã vùng cao như Bắc Yên, Mường La, Phù Yên và Thuận Châu. Bản đồ phân vùng lập địa thích nghi được xây dựng dựa trên các yếu tố địa hình (độ cao, độ dốc) và khí hậu (lượng mưa, nhiệt độ, độ ẩm), chia thành 4 cấp: rất thích nghi, thích nghi trung bình, ít thích nghi và không thích nghi. Nghiên cứu cũng đề xuất quy hoạch vùng trồng Sơn Tra dựa trên bản đồ phân vùng thích nghi và hiện trạng sử dụng đất.

4.1. Vùng phân bố tự nhiên và đặc điểm sinh thái của cây Sơn Tra

Kết quả điều tra vùng phân bố tự nhiên của cây Sơn tra được tổng hơp tại bảng 4.1. Qua bảng 4.1, cho thấy Sơn tra phân bố tự nhiên ở 15 xã của 4 huyện vùng cao gồm Bắc Yên, Mường La, Phù Yên và Thuận Châu.

4.2. Bản đồ phân vùng lập địa thích nghi cho trồng Sơn Tra

Trong nghiên cứu này, ảnh hưởng của các nhân tố sinh thái: độ cao, độ dốc, bề dày tầng đất, nhiệt độ, lượng mưa và độ ẩm được đánh giá theo hệ số tầm quan trọng. Sử dụng phương pháp cộng bản đồ có tính đến hệ số tầm quan trọng của các nhân tố sinh thái theo công thức sau: (3.1) Trong đó: Xi: Là điểm tổng hợp tại vị trí không gian P Ki: Là hệ số tầm quan trọng của chỉ tiêu i Fi: Là điểm đánh giá của chỉ tiêu i Từ kết quả cộng bản đồ, đề tài tiến hành phân cấp thành 4 cấp thích nghi: rất thích nghi, thích nghi trung bình, ít thích nghi và không thích nghi, để xác định khoảng cách điểm của mỗi cấp thích nghi sử dụng công thức sau: ∆X =(Xmax – Xmin)/n (3.2) Trong đó: Xmax: là điểm tổng hợp cao nhất Xmin: là điểm tổng hợp thấp nhất n: Số cấp phân chia (n=4)

4.3. Đề xuất quy hoạch vùng trồng Sơn Tra tại Sơn La

Chồng xếp bản đồ phân vùng thích nghi của Sơn tra với bản đồ hiện trạng sử dụng đất tỉnh Sơn La, sử dụng các chức năng phân tích dữ liệu bản đồ xác định diện tích của từng cấp thích nghi để đề xuất quy hoạch phát triển các vùng trồng Sơn tra cho các huyện thuộc tỉnh Sơn La.

V. Ứng dụng Thực tiễn và Hiệu quả của GIS trong Trồng Sơn Tra

Việc ứng dụng GIS trong phân vùng lập địa giúp quy hoạch vùng trồng Sơn Tra một cách khoa học và hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cung cấp thông tin quan trọng cho các nhà quản lý, các doanh nghiệp và người dân trong việc lựa chọn vùng trồng phù hợp, nâng cao năng suất và chất lượng cây Sơn Tra. Ứng dụng GIS không chỉ giới hạn ở Sơn La, mà có thể mở rộng sang các tỉnh khác có điều kiện tương tự.

5.1. Lợi ích của việc sử dụng bản đồ phân vùng lập địa GIS

Việc sử dụng bản đồ phân vùng lập địa giúp giảm thiểu rủi ro, tăng năng suất, nâng cao hiệu quả đầu tư, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.

5.2. Khả năng mở rộng ứng dụng GIS cho các loại cây trồng khác

Kinh nghiệm và phương pháp nghiên cứu này có thể áp dụng cho nhiều loại cây trồng khác nhau, giúp các tỉnh thành khác quy hoạch phát triển nông nghiệp một cách bền vững và hiệu quả. Việc này góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương.

VI. Tương lai của Sơn Tra Sơn La Phát triển bền vững nhờ GIS

Nghiên cứu này mở ra hướng đi mới cho việc phát triển cây Sơn Tra tại Sơn La dựa trên ứng dụng công nghệ GIS. Trong tương lai, cần tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện bản đồ phân vùng lập địa, tích hợp thêm các yếu tố kinh tế - xã hội để đưa ra các quyết định quy hoạch chính xác và bền vững hơn. Đồng thời, cần đẩy mạnh chuyển giao công nghệ GIS cho người dân và cán bộ địa phương để nâng cao năng lực quản lý và phát triển nông nghiệp bền vững.

6.1. Đề xuất các nghiên cứu tiếp theo về GIS và Sơn Tra

Cần tích hợp thêm các yếu tố kinh tế - xã hội, phân tích biến đổi khí hậu và xây dựng mô hình dự báo năng suất để nâng cao tính chính xác và hiệu quả của bản đồ phân vùng lập địa.

6.2. Chính sách hỗ trợ ứng dụng GIS trong nông nghiệp

Cần có chính sách hỗ trợ đào tạo, chuyển giao công nghệ và đầu tư cơ sở hạ tầng GIS cho các địa phương để khuyến khích ứng dụng rộng rãi GIS trong quản lý và phát triển nông nghiệp.

02/10/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Trên thế giới 1. Nghiên cứu phát triển cây Sơn tra Trên thế giới, sản phẩm của cây Sơn tra đang được sử dụng phổ biến trong y học và cuộc sống sinh hoạt. Các nghiên cứu về Sơn tra đã được các tổ chức, các nhà nghiên cứu quan tâm thực hiện.

Cụ thể: + Năm 1998, Học Viện lâm nghiệp Trung Quốc đã thực hiện đề tài: “Nghiên cứu điều tra phân bố của các loài Sơn tra tại Trung Quốc". Qua nghiên cứu đã xác định có 2 loại Sơn tra gồm: Sơn tra bắc (C. pinnatifida) phân bố tại các tỉnh phía Bắc gồm các tỉnh Vân Nam, Sơn Tây, Hồ Nam, Hồ Bắc và loài Sơn tra nam (C.cuennata) phân bố tại tỉnh Quảng Đông, Quảng Nam Trung Quốc. + Học viện lâm nghiệp Vân Nam được sự hỗ trợ kinh phí của Bộ thương mại Trung Quốc.

Năm 1998 -1999 thực hiện đề tài: “Nghiên cứu nhu cầu thị trường và khả năng tiêu thụ quả Sơn tra tại Tỉnh Vân Nam". Qua kết quả nghiên cứu cho thấy nhu cầu sử dụng trong cuộc sống hàng ngày, sử dụng trong y học và trong công nghiệp chế biến là rất lớn mà hiện tại số lượng quả ở Trung Quốc chưa đáp ứng được nhu cầu trong nước hàng năm Trung Quốc vẫn phải nhập khẩu quả Sơn tra từ các nước khác, để chế biến xuất khẩu. + Trong những năm 1997 - 2000, ngành y học Trung Quốc đã thực hiện đề tài "Nghiên cứu tác dụng của Sơn tra đối với cuộc sống hàng ngày và các bài thuốc liên quan tới Sơn tra''. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng Sơn tra là cây thuốc quý có giá trị và có tác dụng rất lớn trong các bài thuốc liên quan đến việc điều trị một số bệnh như bệnh trĩ, huyết áp.

(Thông tin của ngành Y học Trung Quốc, 2000) download by : skknchat@gmail.com 4 + Năm 1998 -2000, Học viện lâm nghiệp Philippin đã thực hiện đề tài: “Nghiên cứu tính thích ứng của trồng cây Sơn tra sau canh tác nương rẫy". Qua kết quả nghiên cứu cho thấy cây Sơn tra rất thích ứng với việc canh tác sau nương rẫy và nó rất phù hợp với tập tục canh tác của các đồng bào vùng cao. + Năm 1998 – 2000, Viện lâm nghiệp Lào đã thực hiện đề tài: ''Nghiên cứu phân bố và khả năng sinh trưởng loài Sơn tra ở Lào''. Qua kết quả điều tra phân bố ở Lào cho thấy có 2 loài: Loài Sơn tra (Malus doumeri Bois.Chev) và loài Bắc Sơn tra (C.

pinnatifida) và tình hình sinh trưởng của những loài này tốt cho sản lượng quả cao (Báo cáo kết quả nghiên cứu của Viện lâm nghiệp Lào, 2000). Nghiên cứu phân vùng điều kiện lập địa Phân hạng và đánh giá đất là một trong những chuyên ngành nghiên cứu quan trọng và rất gần gũi với các nhà quy hoạch và người sử dụng đất. Trong hoàn cảnh hiện nay, dân số ngày một tăng nhanh, diện tích đất đai bình quân đầu người ngày một giảm kết hợp với tình trạng đang suy thoái dần những vùng đất canh tác thích nghi là những vấn đề mang tính nóng bỏng không chỉ ở nước ta mà trên toàn thế giới. Để giải quyết, các nhà tổ chức quốc tế cùng các nhà khoa học nhiều quốc gia tiến hành điều tra và đánh giá tài nguyên đất không chỉ trên quy mô quốc gia mà còn trên phạm vi toàn cầu làm cơ sở cho việc xây dựng các chương trình phát triển và tối ưu hóa sử dụng đất đai ở mức độ quốc tế.

Trong nông nghiệp các yếu tố dùng để phân hạng thường là loại đất, các tính chất quan trọng liên quan năng suất cây trồng như: Độ pH, hàm lượng chất hữu cơ, các chất dễ tiêu N, P, K, v. Cách phân hạng thường dựa vào phương pháp cho điểm theo thang 10 điểm hoặc 50, 100 điểm. download by : skknchat@gmail.com 5 Trong Lâm nghiệp các yếu tố phân hạng đất thường là loại đất, độ dày tầng đất, thành phần cơ giới, độ pH, thực bì chỉ thị cho độ phì hoặc mức độ thoái hóa đất. Điều quan trọng trong phân hạng đất đai là cần phải có tư liệu về năng suất cây trồng để từ đó tìm hiểu mối quan hệ của chúng với các tính chất đất đai.

Việc phân hạng đất và đánh giá đất đai đã được thực hiện từ khá lâu ở nhiều nước trên thế giới. Từ những năm 1950, việc đánh giá khả năng sử dụng đất được xem như là bước kế tiếp của công tác nghiên cứu đặc điểm đất. Tùy vào trình độ phát triển của từng quốc gia riêng lẻ, phương pháp đánh giá đất đai đã được nhiều nhà khoa học và các tổ chức Quốc tế quan tâm. Ngày nay công việc này càng cần thiết hơn và đã trở thành một lĩnh vực nghiên cứu quan trọng của các nhà quy hoạch, hoạch định chính sách và người sử dụng.

Tùy theo mục đích cụ thể mà mỗi quốc gia sẽ đề ra nội dung, phương pháp đánh giá đất của mình. - Ở Mỹ, đánh giá đất đai được thực hiện với các phương pháp là: + Phương pháp tổng hợp: Lấy năng suất cây trồng nhiều năm làm tiêu chuẩn và phân hạng cho từng cây trồng cụ thể, trong đó lấy cây lúa mì là đối tượng chính. + Phương pháp yếu tố: Bằng cách thống kê các yếu tố tự nhiên, kinh tế để so sánh, trong đó lấy lợi nhuận tối đa là 100 điểm (hoặc 100%) để làm mốc so sánh với đất khác. - Ở Liên Xô và các nước Đông Âu dựa vào thuyết phát sinh đất của V.V Docuchaev, trong đó chỉ ra việc hình thành đất là một quá trình phức tạp do tác động của 5 yếu tố tự nhiên là: Đá mẹ, địa hình, khí hậu, thời gian và sinh vật.

- Ở Ấn Độ và các nước vùng nhiệt đới ẩm Châu Phi thường áp dụng phương pháp tham biến để xác định mối quan hệ giữa các yếu tố đất đai và download by : skknchat@gmail.com 6 cây trồng, các mối quan hệ này được biểu thị dưới dạng phương trình toán học. Kết quả phân hạng được thể hiện dưới dạng % hoặc điểm. - Ở nhiều nước Châu Âu việc phân hạng và đánh giá đất đai được thực hiện theo 2 hướng là: + Phân hạng định tính: Dựa trên các kết quả nghiên cứu các yếu tố tự nhiên để xác định tiềm năng sản xuất của đất đai. + Phân hạng định lượng: Dựa vào kết quả nghiên cứu các yếu tố kinh tế để xác định sức sản xuất thực tế của đất đai.

- Phương pháp đánh giá đất đai của FAO: Được hệ thống do 2 Ủy ban nghiên cứu ở Hà Lan và FAO - Roma thực hiện vào năm 1972, được công bố đầu tiên vào năm 1976 và được chỉnh lý vào năm 1983, trong đó: Đề xuất định nghĩa về đánh giá đất đai là: Đánh giá đất đai là quá trình so sánh, đối chiếu những tính chất của vạt đất cần đánh giá với những tính chất đất đai mà loại hình sử dụng đất yêu cầu phải có. Đánh giá đất đai là quá trình thu thập thông tin, xem xét một cách toàn diện các yếu tố đất đai với cây trồng để phân định ra mức độ thích nghi cao hay thấp. Đã đưa ra một số nội dung hoặc khái niệm được xác định cụ thể như sau: + Khái niệm về đánh giá tiềm năng sử dụng đất đai: “Đánh giá tiềm năng sử dụng đất đai (land capability) là việc phân chia hay phân hạng đất đai thành các nhóm dựa trên các yếu tố thuận lợi hay hạn chế trong sử dụng như độ dốc, độ dày tầng đất, đá lẫn, tình trạng xói mòn, úng ngập, khô hạn, mặn hóa… Trên cơ sở đó có thể lựa chọn những kiểu sử dụng đất phù hợp. Việc đánh giá tiềm năng đất sử dụng đất thường áp dụng trên qui mô lớn, trong phạm vi một nước, một tỉnh hay một huyện.

Ở Mỹ đã sử dụng các yếu tố hạn chế là những yếu tố hầu như không thay đổi được là: độ dốc, độ dày tầng đất và khí hậu để phân chia đất đai toàn quốc thành 8 nhóm với các yếu tố hạn chế tăng dần từ nhóm I tới nhóm VIII. Trong đó nhóm I là nhóm download by : skknchat@gmail.com 7 thuận lợi nhất trong sử dụng, có ít yếu tố hạn chế nhất, nhóm VIII là nhóm có nhiều yếu tố hạn chế nhất trong sử dụng. Yếu tố hạn chế được thể hiện chủ yếu qua chữ viết tắt như xói mòn là e, dư thừa nước là w, v. + Khái niệm về đánh giá mức độ thích nghi đất đai: “Đánh giá mức độ thích nghi đất đai (land suitability): Là quá trình xác định mức độ thích nghi cao hay thấp của các kiểu sử dụng đất cho một đơn vị đất đai và tổng hợp cho toàn khu vực dựa trên so sánh yêu cầu kiểu sử dụng đất với đặc điểm các đơn vị đất đai”.

Hệ thống đánh giá được thể hiện theo 4 cấp: +) Phân thành 2 cấp lớn: Kiểu sử dụng đất hay loài cây trồng thích nghi (Viết tắt là S- Suitable) hay không thích nghi (Viết tắt là N- Not suitable) với điều kiện đất đai. +) Mức độ thích nghi (S) phân chia thành 3 mức: ++ Thích nghi cao (S1): Đất hầu như không có hạn chế đáng kể khi thực hiện canh tác. ++ Thích nghi trung bình (S2): Đất có hạn chế nhất định làm giảm năng suất cây trồng hoặc nâng cao chi phí canh tác nhưng vẫn thích nghi cho cây trồng hoặc kiểu sử dụng đất. ++ Thích nghi kém (S3): Đất có hạn chế đáng kể làm giảm mạnh năng suất và tăng cao chi phí canh tác rõ rệt, hiệu quả kinh tế bị suy giảm đáng kể.

Ngoài những tài liệu cơ bản của FAO về đánh giá đất đai, FAO cũng đưa ra những hướng dẫn khác nhau về đánh giá đất đai cho các đối tượng riêng biệt như: - Đánh giá đất đai cho nền nông nghiệp nhờ mưa (Guieline for land Evaluation for Rainfed Agriculture - FAO, 1983) - Đánh giá đất đai cho trồng trọt cỏ quảng canh (Land Evaluation for extensive grazing - FAO, 1990). download by : skknchat@gmail.com 8 - Đánh giá đất đai và phân tích hệ thống canh tác cho quy hoạch sử dụng đất (Land Evaluation and farming system analysis for land planning - FAO, 1992). Trên thế giới cũng có nhiều công trình nghiên cứu về mối quan hệ giữa đặc điểm đất đai với sinh trưởng của cây trồng. Với các kết quả nghiên cứu đã đạt được, nhiều nhà khoa học đã cho rằng: Đối với các vùng ôn đới, phản ứng của đất, hàm lượng CaCO3 và các chất BaZơ khác, thành phần cấp hạt và điện thế ôxy hóa khử (Eh) của đất là những yếu tố quan trọng nhất.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ