CHƯƠNG 1: MƯỜI GIỚI SA-DI-NI 9 Không dâm dục là thuần nhất thanh tịnh, thân không dâm dục, miệng không nói dâm, tâm không nghĩ dâm, giữ mình trong sạch,26 như gió trên không, không bám chỗ nào.27 Thân không làm chuyện ân ái [người khác], mắt không nhìn ngó [người làm] ân ái, tai quyết không nghe [âm thanh] ân ái, mũi không đắm hương, miệng không nói dâm, tâm không chứa dụ Quán thân bốn đại28 vốn không [thường còn], đều do đất, nước, gió, lửa [hợp thành], không tôi, không người, không có tuổi thọ, không có mạng sống. Dâm dục chỗ nào? Bám chấp chỗ nào? Quyết chí tu tập [ba cửa giải thoát]:29 Tính không, vô tướng, cũng như không nguyện.30 Điều 4: Không nói dối (妄語戒) [0442a07] Giới Sa-di-ni không nói hai chiều,31 không nói cay độ32 Nói lời ôn hòa. Nếu không nhìn thấy chớ nói nhìn thấy, nếu không có nghe chớ nói có nghe. Thấy những điều xấu không truyền [lung 26 Cụm từ “chấp kỷ tiên minh” (執己鮮明) là một phép chơi chữ về việc giữ thân tâm trong sạch và tỉnh thức đối với giới tà dâm này.
27 Chấp kỷ tiên minh. Như hư không phong vô sở ỷ trước (執己鮮明。如虗空風無所倚著), cứ cho rằng bản thân mình tươi sáng, như ngọn gió kia [bay qua] không bám vào chỗ nào. 28 Thân tứ đại (身四大), thân gồm 4 yếu tố (đất, nước, lửa, gió). 29 Sanskrit: Trīni vimoksa-mukhāni.
Hán dịch: Tam giải thoát môn (三解脫門), ba cửa giải thoát. Bao gồm: (i) Không môn (空門, S.Sūniyatā), quán xét tất cả các pháp vốn không tự tính; (ii) Vô tướng môn (無相門, S.Animitta), khi đã biết mọi sự vật hiện tượng vốn không thực thể nên lìa tướng sai biệt, tự tại; (iii) Vô nguyện môn (無願門, S. Apranihita), nếu biết các pháp vô tướng thì trong ba cõi không mong cầu điều gì. 30 Không, vô tướng, nguyện (空無相願), tính không, vô tướng và vô nguyện.Sanskrit: Paiśunya.
Hán dịch: Lưỡng thiệt (兩舌), nói lời ly gián, phá tình đoàn kết giữa người với người, thường gọi là nói lưỡi hai chiều. 32 Ác ngôn (惡言), nói lời cay độc, nguyền rủa. 10 GIỚI SA-DI-NI, OAI NGHI, LUẬT NGHI VÀ LỜI KHUYẾN TU CỦA TỔ QUY SƠN tung]. Nghe những điều xấu không [kể khắp nơi].
Lời ác đáng tránh, thường xuyên thực hành bốn tâm bình đẳng.33 Không nói lời bậy, chỉ nói đạo pháp.34 Không được bàn chuyện của người thế tục. Không nói chuyện vua, chuyện quan, chuyện cướp. Thường xuyên khen ngợi kinh pháp [của Phật], giới luật chuẩn mực của các Bồ-tát. Lập chí Đại thừa, không làm tiểu học, [thường xuyên] thực hành bốn tâm bình đẳng.
Điều 5: Không uống rượu [bia] (不飲酒戒) [0442a13] Giới Sa-di-ni không uống rượu [bia], không được nghiện rượu, không thưởng thức rượu. Người uống rượu bia mắc ba sáu lỗi,35 đánh mất đường đạo,36 phá nát gia đình,37 hại thân, mất mạng, do rượu mà ra. 33 Tứ đẳng (四等), tứ vô lượng tâm bao gồm: Từ (慈, S.Maitrī), bi (悲, S.Karuṇā), hỷ ( 喜, S.Muditā) và xả (捨, S. 34 Đạo (道), con đường.
Ở đây là con đường thoát khỏi khổ đau. 35 Tam thập lục thất (三十六失), ba mươi sáu lỗi trong Kinh Phân biệt thiện ác sơ khởi như sau: 1) Con không kính thờ cha mẹ, 2) Nói năng lộn lạo, 3) Nói nhiều và nói hai chiều, 4) Nói việc đã giấu kín, 5) Mắng chửi trời đất và người khác, 6) Không biết đường về nhà, bỏ mất đồ đạc, 7) Không thể sửa mình chính đáng, 8) Dễ bị té ngã, 9) Đi đứng không vững vàng, 10) Dễ xúc phạm người khác, 11) Phế bỏ công việc, không lo làm ăn, 12) Tổn hao tài sản, 13) Không chăm sóc vợ con, 14) Kêu la, chửi mắng, 15) Thoát y phục trên đường, 16) Quấy rối phụ nữ, 17) Thích gây gổ, 18) Nói lớn, làm kinh động xóm làng, 19) Giết súc vật, 20) Đập phá đồ đạc, 21) Không tôn trọng vợ con, 22) Gần gũi kẻ xấu, 23) Xa lánh bậc hiền thiện, 24) Ngủ như chết, đau nhức thân thể, 25) Nôn mửa thật ghê tởm, 26) Liều mạng, không biết sợ sệt, 27) Không kính bậc hiền thiện, 28) Hoang dâm vô độ, 29) Mọi người tránh xa, 30) Giống như người chết, không biết gì cả, 31) Thân thể xấu dần, 32) Thiện thần tránh xa, 33) Bạn tốt lánh xa, 34) Không kiêng sợ ai, 35) Chết đọa địa ngục, 36) Kiếp sau làm người hôn ám. Gồm có hai nghĩa: (i) Mê mất đường đạo ( 迷失道路); (ii) Làm trái đạo nghĩa (違背道義), vô đạo (無道). 37 Phá gia (破家), phá hoại gia đình.
CHƯƠNG 1: MƯỜI GIỚI SA-DI-NI 11 Kéo đông dẫn tây, dính nam vướng bắc, không thể tụng kinh, không kính Tam bảo, khinh thầy và bạn, bất hiếu cha mẹ, mê mờ tâm trí, đời đời ngu si, không gặp đạo lớn, tâm không nhận biết. Nếu không uống rượu thì không dính mắc năm nhóm thân tâm,38 năm loại dục lạc,39 sáu loại ngăn che; được năm thần thông,40 thoát năm đường á41 Điều 6: Không đắm hương hoa, anh lạc (不著香 花瓔珞戒) [0442a20] Giới Sa-di-ni không mang hoa thơm tự làm trang sức và xông ướp [thân]. Mền, áo và dép không được năm màu. Không dùng đồ quý làm chuỗi anh lạc.
Không mặc gấm vóc, lụa là, lụa hoa và vải sa trun. Không nhìn [vải lụa] tưởng có thêu dệt. Nên mặc vải thô, màu pháp y gồm: Xanh, đen, mộc lan và màu bùn đất. Muốn trừ sáu suy,42 lấy giới làm hương.
Học43 Phật pháp sâu để làm chân thật. Ba mươi hai tướng [đẹp của đức Phật] 38 Sanskrit: Pañca-skandha. Pali: Pañca-khandha. Ngũ ấm (五陰), ngũ uẩn (五蘊), năm nhóm.
Bao gồm: (i) Sắc (色, S=P. Rūpa), thân thể; (ii) Thọ (受, S=P. Vedanā), cảm giác; (iii) Tưởng (想, S. Saññā), tri giác; (iv) Hành (行, S.
Saṃskāra, P. Saṅkhāra), tâm tư; (v) Thức (識, S. 39 Ngũ dục (五欲), năm khoái lạc giác quan gồm hình thể, âm thanh, mùi, vị và vật xúc chạm. 40 Thần thông (神通), năng lực siêu giác quan.
Năm thần thông phổ biến bao gồm: Thiên nhãn thông (天眼通), thiên nhĩ thông (天耳通), tha tâm thông (他心通), thần túc thông (神宿通) và túc mệnh thông (宿命通). 41 Ngũ đạo (五道), năm đường, năm cảnh giới gồm A-tu-la, người, động vật, ngạ quỷ, địa ngục. Lục suy (六衰), sáu loại suy yếu che mất đi chân tâm của người. Bao gồm: Hình thù (色), âm thanh (聲), mùi (香), vị (味), xúc chạm (觸), ý hình dung (法).
43 Tụng (誦), đọc tụng. 12 GIỚI SA-DI-NI, OAI NGHI, LUẬT NGHI VÀ LỜI KHUYẾN TU CỦA TỔ QUY SƠN làm chuỗi anh lạc. Trồng các cội lành làm pháp phục mặc. Mong sáu thần thông không gì chướng ngại.
Dẫn dắt mọi người bằng sáu hoàn hảo.44 Điều 7: Không ngồi giường lớn, cao và rộng (不 坐高廣大牀戒) [0442b03] Giới Sa-di-ni không ngồi giường cao làm bằng vàng bạc. Không được nhớ nghĩ mền, gấm tơ lụa [năm màu lộng lẫy].45 Không trang sức quý trước hoặc sau mũ.46 Không được dạy bảo, xin xỏ [người khác] giường êm chiếu tốt, quạt vẽ năm màu, phất trần thượng hạng. Tay không quen thói đeo nhẫn và vòng.47 Tin sâu giới luật, tâm biết hổ thẹn. Một lòng tinh chuyên, tường cầu chánh định, thay cho giường nằm.
Tâm không dao động, tuệ giác tự sinh, dùng làm tọa cụ. Bảy điều giác ngộ48 không được lay chuyển, vững vàng đạo tâm. Hán phiên âm: Lục ba-la-mật (六波羅蜜). Lục độ (六度), sáu ba- la-mật, sáu hoàn hảo.
Bao gồm: (i) Bố thí (布施, S. Dānapārāmitā), sự chia sẻ, cúng dường. Bao gồm: Chia sẻ tài sản (財施, S. Āmiṣa-dāna), chia sẻ bài pháp (法施, S.
Dharma-deśanā), chia sẻ [niềm vui] không sợ hãi (無畏施,S.Abhaya-dāna); (ii) Trì giới (持戒, S. Śīla-pāramitā), giữ gìn các điều đạo đức; (iii) Nhẫn nhục (忍辱, S. Kṣantipārāmitā), kiên nhẫn; (iv) Tinh tiến ( 精進, S. Vīryapārāmitā), siêng năng; (v) Thiền định (禪定, S.
Dhyānapāramitā), các phép tu thiền chỉ và thiền quán; (vi) Trí tuệ (智慧, S. Prajñāpāramitā), trí tuệ hoàn hảo. Trong đó “cẩm” (錦), chăn; “bị” (被), chăn, mùng, mền. Trong đó “uyển” (綩), tua quai mũ thời xưa, quần áo màu hồng, cái lưới, còn chữ “diên” (綖), vật trang sức treo ở trước và sau mũ thời xưa.
47 Chỉ hoàn (指鐶), nhẫn và vòng tay. 48 Sanskrit: Saptabodhyavgāni. Pali: Satta bojjhaṅgā hoặc Satta sambojjhaṅgā. CHƯƠNG 1: MƯỜI GIỚI SA-DI-NI 13 Điều 8: Không ca múa, âm nhạc (不歌舞音樂 戒) [0442b09] Giới Sa-di-ni không được [xem] nghe tiếng ca múa âm nhạc, vỗ tay, đánh trống, không tự trình diễn hoặc dạy người diễn.
Thường tự tu thân, hành theo chánh pháp, không làm điều quấy. Một lòng hướng Phật, tụng trì kinh pháp, [siêng năng] thực hành đường thánh tám nhánh như hạnh phúc pháp, không vui tục lụy. Nghe kinh tư duy, hiểu sâu nghĩa lớn. Nếu thân không bệnh, không được lái xe, cưỡi ngựa, cưỡi voi.
Nên thường ghi nhớ cử chỉ nhẹ nhàng. Chứng đạt thần thông không thể nghĩ bàn để làm cỗ xe,49 vượt thoát tám nạn.50 Điều 9: Không cầm giữ vàng bạc, đồ quý (不捉持 金寶戒) [0442b15] Giới Sa-di-ni không được chất chứa [các loại] trân bảo, không tự tay lấy, không bảo người lấy. Thường xuyên chuyên tâm, xem đạo quý báu. Kinh là trên hết, lấy nghĩa [của kinh] làm sự tuyệt diệu.
49 Xa thừa (車乘), xe, phương tiện vận chuyển. 50 Bát nạn (八難), tám nạn, tám tình huống không may xảy ra trên đường tu. Bát nạn bao gồm: (i) Địa ngục (地獄, S. Naraka), cõi địa ngục; (ii) Ngạ quỷ (餓鬼, S.
Preta), cõi ngạ quỷ; (iii) Súc sinh (畜生, S.Tiryañc), chịu thân loài động vật; (iv) Trường thọ thiên (長壽 天, S. Dīrghāyuṣka-deva), cõi trời hưởng thụ lâu dài không biết thiện quả nghiệp báp luân hồi; (v) Biên địa (邊地, S.Prat-yantajanapāda), chỗ không có Phật pháp; (vi) Căn khuyết (根缺, S. Indriyavaikalya), khiếm khuyết các giác quan trên thân; (vii) Tà kiến (邪見, S. Mithyādarśana), cái nhìn lệch lạc, không đúng chánh pháp; (viii) Như lai bất xuất sinh (如來 不出生, S.Tathāga-tānāmanutpāda), Như Lai không ra đời, có chỗ ghi là Phật tiền Phật hậu (佛前佛后) nghĩa là trước hoặc sau thời Phật.
14 GIỚI SA-DI-NI, OAI NGHI, LUẬT NGHI VÀ LỜI KHUYẾN TU CỦA TỔ QUY SƠN Lấy việc hiểu rõ tính không, vô tướng, vô nguyện làm gốc, đạt ba giải thoát. Không cầu tham dục để xa lìa khỏi chín thứ phiền não.51 Ở đạo thật lâu, không cùng không tận, không có bờ bến, cũng không chỗ trụ. Điều 10: Không ăn trái giờ (不非時食戒) [0442b20] Giới Sa-di-ni, không ăn trái giờ, thường ăn đúng giờ, ăn có chừng mực. Qua khỏi giờ ngọ, không được ăn tiếp.
Cho dù [thức ăn] có thơm ngon mấy, cũng không ăn tiếp. Không dạy người phạm, tâm không ý nghĩ. Giả sử thức ăn tự nhiên mà có, cũng không được ăn. Nếu vua, trưởng giả, cúng sau giờ ngọ, cũng không được ăn.
Thường chiêm nghiệm thiền: Đồ ăn thức uống, tuy có chỗ ăn, chỉ để duy trì mạng sống của mình. Muốn giúp mọi người hiểu được hạnh nguyện sâu xa [như vậy], dùng mười trí lực52 [của đức Như lai] làm thức ăn uống.