NHIỆT HỌC Chương 6. NGUYÊN LÍ THỨ NHẤT CỦA NHIỆT ĐỘNG HỌC 6.Thuyết cấu tạo phân tử của các chất Vật chất được cấu tạo bởi các nguyên tử và phân tử. Ngày nay ta biết rằng phân tử gồm nhiều nguyên tử, nguyên tử gồm các điện tử và hạt nhân. Các hạt nhân lại gồm các proton và neutron.
Các proton và neutron lại được cấu tạo từ các hạt "quack". Từ thế kỷ IV trước công nguyên Demôcrit đã cho rằng vật chất được cấu tạo từ các nguyên tử và phân tử, ông quan niệm rằng: Các nguyên tử, phân tử của các chất khác nhau có hình dạng kích thước khác nhau nhưng có cùng bản chất. Đến thế kỷ XIIX Lômônôxốp đã phác hoạ: nguyên tử, phân tử là những quả cầu vỏ ngoài sần sùi và luôn chuyển động tịnh tiến, hỗn loạn, khi va chạm vào nhau chúng sinh ra chuyển động quay. Khi chất khí đựng trong một bình chứa, các phân tử khí va đập không ngừng lên thành bình.
Như vậy, nhiệt độ và nội năng của khí phải liên quan đến động năng của các phân tử khí. Thuyết động học chất khí bắt nguồn từ những luận điểm này. Đối tượng, nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu của Vật lí phân tử và nhiệt học Thực tế có nhiều hiện tượng liên quan đến các quá trình xảy ra bên trong vật; thí dụ: vật có thể nóng lên do ma sát, có thể nóng chảy hoặc bốc hơi khi bị đốt nóng. Những hiện tượng này liên quan đến một dạng chuyển động mới của vật chất, đó là chuyển động nhiệt.
Chuyển động nhiệt chính là đối tượng nghiên cứu của nhiệt học. Để nghiên cứu chuyển động nhiệt người ta dùng hai phương pháp: Phương pháp thống kê ứng dụng trong phần vật lí phân tử. Phương pháp thống kê phân tích quá trình xảy ra đối với từng phân tử, nguyên tử riêng biệt rồi dựa vào các qui luật thống kê để tìm ra các qui luật chung của cả tập hợp các phân tử và giải thích các tính chất của vật. Phương pháp thống kê dựa trên cấu tạo phân tử của các chất, nó cho biết một cách sâu sắc bản chất của hiện tượng.
Tuy nhiên trong một số trường hợp việc ứng dụng phương pháp này tương đối phức tạp. Phương pháp nhiệt động được ứng dụng trong phần nhiệt động học. Nhiệt động học là ngành vật lí nghiên cứu điều kiện chuyển hóa năng lượng từ dạng này sang dạng khác và nghiên cứu sự chuyển hóa đó về mặt định lượng. Phương pháp nhiệt động dựa trên 2 nguyên lí cơ bản rút ra từ thực nghiệm là nguyên lí thứ nhất và nguyên lí thứ 2 của nhiệt động học.
Nhờ các nguyên lí này, không cần chú ý đến cấu tạo phân tử của vật ta cũng có thể rút ra nhiều kết luận về tính chất của các vật trong những điều kiện khác nhau. Mặc dù có hạn chế ở chỗ không giải thích sâu sắc bản chất của hiện tượng nhưng trong nhiều vấn đề thực tế nhiệt động học cho ta cách giải quyết rất đơn giản. Một ít lịch sử về nhiệt động học Lịch sử nhiệt động học được nối tiếp quanh việc hiểu ba khái niệm nhiệt độ, “nhiệt” và năng lượng. Ngay cả nếu nhiệt động học hiện đại nghiên cứu các vấn đề tổng quát hơn, thì môn khoa học đó cũng chỉ được hình thành tại thời điểm khi mà ba khái niệm trên đã được hình thành một cách đúng đắn.
Từ thời văn minh cổ đại đến LAVOISIER a. Xác định vị trí của nhiệt độ Nóng lạnh là một cảm giác thường gặp. Đến tận thời kì Trung Cổ khái niệm về nhiệt vẫn bị lẫn lộn với khái niệm nhiệt độ, liên hệ chặt chẽ với lửa. Một số dụng cụ, máy nhiệt nghiệm, đã được chế tạo làm nổi bật sự tăng lên của nhiệt độ bằng cách sử dụng sự dãn nở của không khí.
Kể từ thời Phục Sinh, vật lí trở thành môn khoa học định lượng và các nhiệt biểu thực sự đầu tiên đã xuất hiện. Một giáo sư y học của trường đại học tổng hợp Padoue năm 1612 đã mô tả một thiết bị dùng để theo dõi sự tiến triển của cơn sốt: một ampun thủy tinh chứa không khí đặt trong miệng bệnh nhân, được nối với một uống chữ U đầy nước; không khí bị dãn nở sẽ đẩy nước và hiệu mức nước trong hai ống cho phép xác định được nhiệt độ. Năm 1654 một nhiệt biểu bằng rượu chính xác hơn nhiều đã được chế tạo ở Florence. Việc đo đạc nhiệt độ trở thành một thao tác lặp đi lặp lại bằng cách theo dõi trên một thang phổ cập.
Daniel Fahreheit (1686 - 1736) đề nghị một thang đo nhiệt độ, gần với thang đo nhiệt độ hiện còn sử dụng ở một số nước (nước Anh,…), dựa trên sự dãn nở của thủy ngân trong một ống hình trụ. Theo qui ước ông gán cho điểm nóng chảy của nước đá là 320, và nhiệt độ thông thường của cơ thể người là 960. Các nhiệt độ tùy ý đó đã tránh việc sử dụng các số âm với nhiệt độ mùa đông thông thường ở Châu Âu. Thang nhiệt độ Fahreheit đang sử dụng hiện nay ấn định nhiệt độ tan của nước đá là 32 0F và nhiệt độ sôi của nước dưới áp suất khí quyển là 2120F.
Anders Celsius năm 1741 đề xuất một thang nhiệt độ bách phân dựa trên sự dãn nở của thủy ngân hiện đang được sử dụng. Cuộc cách mạng Pháp đã khuyến cáo một sự hợp lí hóa các hệ đo và sử dụng một cách có hệ thống hệ thập phân như một thang hợp pháp. Công ước năng 1794 qui định rằng “một độ nhiệt sẽ là một phần trăm của khoảng cách giữa nhiệt độ của nước đá và nhiệt độ của nước sôi” b. Các lí thuyết về nhiệt Nóng và lạnh lần đầu tiên được cảm nhận như là các tính chất đặc trưng cho mỗi vật mà một số người so sánh với màu sắc.
Vào thế kỉ XVIII các nhà thực nghiệm đã trộn các chất lỏng với các nhiệt độ khác nhau, nhúng một chất rắn nóng vào một chất lỏng lạnh… Họ nhận thức rằng “nhiệt” được truyền từ vật này sang vật khác. Các thí nghiệm này đã cho phép định nghĩa và xác định đối với một vật nhiệt dung riêng bằng tỉ số giữa nhiệt lượng nhận được bởi một đơn vị khối lượng và độ tăng nhiệt độ của vật. Mọi nhiệt dung riêng được so sánh với nhiệt dung riêng của một vật chuẩn. Thỉnh thoảng để đo “nhiệt lượng trao đổi” người ta còn dùng “calo” được định nghĩa như là nhiệt mà một gam nước nhận được khi nhiệt độ của nó tăng thêm một độ.
146 Các nhà vật lí lí thuyết thời đó, cho dù các nghiên cứu của họ và khả năng thực nghiệm của họ, đã không thể có được từ giải thích 1 cách thỏa đáng các hiện tượng nhiệt do 2 lí do chủ yếu sau: - Họ cho rằng mỗi vật chất chứa một lượng nào đó các đại lượng gọi là “nhiệt” liên quan chặt chẽ đến nhiệt độ của vật: Một vật càng nóng nó chứa càng nhiều nhiệt. Một quan niệm như vậy đã cho phép giải thích thỏa đáng các thí nghiệm thực hiện đối với những vật có thể tích biến đổi ít như các chất rắn hay chất lỏng; nhưng không giải thích được tại sao một chất khí lại nóng lên khi người ta nén nó. - Họ không hiểu thấu mối liên hệ giữa năng lượng và “nhiệt”. Như chúng ta sẽ thấy các lí thuyết hiện đại, được thiết lập trong những thế kỉ tiếp theo, dựa trên khái niệm về bảo toàn năng lượng; “nhiệt” chỉ là một dạng trao đổi năng lượng.
Các lí thuyết liên quan đến bản chất của “nhiệt” được chia thành 2 lĩnh vực: - Giải thích động học: “Nhiệt” được coi là kết quả của chuyển động hỗn loạn vi mô. Quan niệm này đã gần với lí thuyết hiện tại nhưng bản chất của đại lượng đó chưa được định rõ. Bernoulli (1700-1782) và Laplace (1749-1827), cùng một số nhà toán học và cơ học nổi tiếng khác tạo thành một nhóm những người bảo vệ lí thuyết đó – một nhóm khá ít ỏi trong số những nhà khoa học đương thời. - Chất lỏng nhiệt: Vào thời kì đó Daniel Bernoulli Piere Simon Laplace khó tưởng tượng quá trình truyền nhiệt một thực thể phi vật chất.
Như vậy theo ý kiến thông dụng nhất thì “nhiệt” được cấu tạo bởi các hạt nhỏ hay bằng một chất lỏng truyền trong các “lỗ” của vật chất. Lavoisier (1743-1794) là một trong những người bảo vệ nổi tiếng nhất của việc giải thích đó và ông gọi chất lỏng đó là “chất lỏng nhiệt”; đó được coi là một trong số những chất đơn giản hay các nguyên tố. Lí thuyết chất nhiệt còn chiếm ưu thế trong suốt đầu thế kỉ 19 cho đến khi người ta từ bỏ khái niệm về “nhiệt” như là một đại lượng được xác định cụ thể chứa trong mỗi vật. Khoa học về các máy Antoine Laurent de Lavoisier a.
Máy hơi nước Các máy hơi nước đầu tiên được chế tạo vào thế kỷ XVIII. Nhà bác học xứ Êcôt James Watt (1736 - 1819) đã hoàn thiện chúng năm 1780. Bắt đầu từ đó việc ứng dụng các máy hơi nước đã được triển khai nhanh chóng trong vận tải và công nghiệp. Các kĩ sư lúc đầu đã tiến hành nghiên cứu thực nghiệm để hoàn thiện các máy đó.
Về sau được sự cổ vũ của các nhà cầm quyền, các nhà khoa học đã nghiên cứu chính xác các tính chất của hơi nước và đã tìm được các điều kiện cho phép giảm thiểu việc tiêu thụ nhiên liệu để nhận một công cơ học. Các công trình đó đã ra đời một môn khoa học mới: Nhiệt động học. Nicolas Léonard Sadi Carnot Tuy nhiên, sự ra đời thật sự của bộ môn nhiệt động học là phải chờ đến mãi thế kỉ thứ 19 với tên của nhà vật lí người Pháp Nicolas Léonard Sadi Carnot (1796-1832) cùng với cuốn sách của ông mang tên "Ý nghĩa của nhiệt động năng và các động cơ ứng dụng loại năng lượng này". Ông đã nghiên cứu những cỗ máy được gọi là động cơ nhiệt: một hệ nhận nhiệt từ một nguồn nóng để thực hiện công dưới dạng cơ học đồng thời truyền một phần nhiệt cho một nguồn lạnh.
Chính từ đây đã dẫn ra định luật bảo toàn năng lượng (tiền đề cho nguyên lí thứ nhất của nhiệt động học), và đặc biệt, khái niệm về quá trình Sadi Carnot thuật nghịch mà sau này sẽ liên hệ chặt chẽ với nguyên lí thứ hai. Ông cũng bảo vệ cho ý kiến của Lavoisier rằng nhiệt được truyền đi dựa vào sự tồn tại của một dòng nhiệt như một dòng chất lưu, và không đi đến khẳng định sự tương đương giữa nhiệt và công cơ học.