Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ 1. Khái niệm, đặc điểm và bản chất của quyền sở hữu trí tuệ Trong tiến trình vận động của đời sống xã hội hiện đại, sự phát triển như vũ bão của KH&CN thế kỷ XXI đã có tác động sâu rộng, mãnh liệt và trực tiếp hơn bao giờ hết với tốc độ và chất lượng tăng trưởng kinh tế - xã hội, tốc độ gia tăng của cải vật chất và các giá trị tinh thần cho xã hội loài người. Tài sản trí tuệ - tài sản dựa trên tri thức cũng vì vậy mà trở nên đặc biệt quan trọng trong cấu trúc tài sản của mỗi quốc gia và doanh nghiệp, mỗi cá nhân và tổ chức. Đây là “động lực mới tạo nên sự thịnh vượng trong xã hội đương thời”1.
Cơ chế bảo hộ SHTT với nội dung cơ bản là coi các kết quả của hoạt động sáng tạo khoa học, công nghệ và nghệ thuật là các tài sản trí tuệ và các quyền về tài sản này phải được pháp luật thừa nhận và bảo vệ, đã trở thành một công cụ đắc lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế và cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho quảng đại quần chúng nhân dân. Đặc biệt, trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập, vấn đề bảo hộ SHTT trở thành vấn đề trung tâm trong các quan hệ kinh tế quốc tế, là yếu tố then chốt trong hoạch định chiến lược, chính sách phát triển của các quốc gia. Bảo hộ SHTT vừa xuất phát từ nhu cầu tự thân của các nền kinh tế trong quá trình phát triển, vừa là một đòi hỏi mang tính toàn cầu, bắt buộc khi tham gia các quan hệ kinh tế quốc tế và hội nhập. Đối với Việt Nam, việc thiết lập một hệ thống bảo hộ SHTT hữu hiệu là một trong số các yếu tố quan trọng quyết định thành công của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).
Đồng thời, góp phần thúc đẩy hoạt động nghiên cứu sáng tạo và đổi mới trong nước, khuyến khích cạnh tranh và lành mạnh hóa thị trường, từ đó hỗ trợ đắc lực cho công cuộc phát triển kinh tế - xã hội và công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. 1 Theo nhận định của Tổng Giám đốc Tổ chức SHTT thế giới (WIPO) Kamil Idris tại tác phẩm SHTT một công cụ đắc lực để phát triển kinh tế (bản dịch tiếng Việt 2004). Khái niệm quyền sở hữu trí tuệ Quyền SHTT có thể được hiểu theo hai phương diện: - Phương diện khách quan: Quyền SHTT là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình xác lập và khai thác, sử dụng và định đoạt các đối tượng SHTT. - Phương diện chủ quan: Quyền SHTT là tập hợp các quyền và nghĩa vụ cụ thể của các cá nhân, tổ chức là chủ thể của quyền SHTT.
Đặc điểm của quyền sở hữu trí tuệ Kết quả nghiên cứu về SHTT trong nước và nước ngoài cho thấy, có nhiều phương pháp và cách thức tiếp cận khác nhau khi phân tích về đặc thù và bản chất của quyền SHTT. Tuy nhiên, nhìn một cách tổng thể, có thể tóm lược chung các đặc điểm cơ bản nhất của quyền SHTT như sau: 1. Đặc điểm về căn cứ phát sinh, xác lập quyền Quyền SHTT chỉ được coi là hợp pháp khi được phát sinh hoặc xác lập theo đúng các quy định của pháp luật về điều kiện và thời điểm phát sinh quyền. Theo căn cứ phát sinh quyền, pháp luật các nước thường phân định cơ chế điều chỉnh khác nhau đối với hai nhóm quyền SHTT chủ yếu sau: - Nhóm quyền phát sinh một cách tự nhiên: Quyền SHTT tự động phát sinh hoặc được xác lập cùng với sự ra đời của tài sản trí tuệ (đối tượng SHTT) mà không cần phải tiến hành bất kỳ thủ tục pháp lý nào tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Thời điểm phát sinh quyền SHTT đồng thời với thời điểm phát sinh đối tượng SHTT. Khi xảy ra tranh chấp, chủ sở hữu quyền phải tự chứng minh quyền của mình bằng cách đưa ra các chứng cứ về mối liên hệ giữa bản thân và đối tượng quyền. Chính vì đặc thù này mà mặc dù có cơ chế tự động phát sinh quyền, pháp luật các nước vẫn dành nhiều quan tâm quy định về các thủ tục, trình tự đăng ký đối tượng tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền (như một khuyến cáo có lợi và không bắt buộc đối với các chủ thể quyền), vì khi xảy ra tranh chấp, chứng chỉ đăng ký do cơ quan này cấp sẽ là một bằng chứng quan trọng làm căn cứ xác nhận mối quan hệ giữa chủ thể và đối tượng quyền. 3 Nhóm quyền SHTT phát sinh một cách tự nhiên, bao gồm: quyền tác giả, quyền liên quan tới quyền tác giả (quyền đối với các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học; các cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình; chương trình phát sóng; tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa) và một số ít các quyền SHCN (quyền đối với tên thương mại, bí mật kinh doanh và nhãn hiệu nổi tiếng).
Theo quy định tại Điều 6 Luật SHTT 2005, căn cứ phát sinh, xác lập quyền SHTT đối với các quyền thuộc nhóm này như sau: Quyền tác giả phát sinh kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định, không phân biệt nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ, đã công bố hay chưa công bố, đã đăng ký hay chưa đăng ký. Quyền liên quan phát sinh kể từ khi cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa được định hình hoặc thực hiện mà không gây phương hại đến quyền tác giả. Quyền SHCN đối với tên thương mại được xác lập trên cơ sở sử dụng hợp pháp tên thương mại đó. Quyền SHCN đối với bí mật kinh doanh được xác lập trên cơ sở có được một cách hợp pháp bí mật kinh doanh và thực hiện việc bảo mật bí mật kinh doanh đó.
Quyền SHCN đối với nhãn hiệu nổi tiếng được xác lập trên cơ sở sử dụng, không phụ thuộc vào thủ tục đăng ký. - Nhóm quyền phát sinh trên cơ sở đăng ký: Quyền SHTT chỉ phát sinh hoặc được xác lập trên cơ sở đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo thủ tục, trình tự luật định. Ngược lại với nhóm trên, ở đây, quyền SHTT không tự động phát sinh mà theo cơ chế quyền chỉ được trao khi đã tiến hành một số thủ tục pháp lý nhất định. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ xem xét đơn đăng ký theo trình tự, thủ tục và tiêu chuẩn do pháp luật về SHTT quy định.
Nếu đáp ứng các yêu cầu luật định, chủ thể quyền (có thể là tổ chức hoặc cá nhân) sẽ được cấp một chứng chỉ (văn bằng bảo hộ) với ý nghĩa thừa nhận, xác nhận tổ chức, cá nhân đó có quyền đối với đối tượng SHTT trong thời hạn và phạm vi 4 tương ứng. Các quyền SHTT đối với các đối tượng SHTT được xác lập theo chứng chỉ (văn bằng bảo hộ) được cấp. Nhóm quyền SHTT phát sinh theo cơ chế này bao gồm phần lớn các quyền SHCN (quyền đối với sáng chế/giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý) và quyền đối với giống cây trồng. Theo quy định tại Điều 6 Luật SHTT 2005, căn cứ phát sinh, xác lập quyền SHTT đối với các quyền thuộc nhóm này như sau: Quyền SHCN đối với sáng chế/giải pháp hữu ích kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu (trừ nhãn hiệu nổi tiếng), chỉ dẫn địa lý được xác lập trên cơ sở quyết định cấp văn bằng bảo hộ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo thủ tục đăng ký quy định tại Luật SHTT hoặc công nhận đăng ký quốc tế theo quy định của Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
Quyền đối với giống cây trồng được xác lập trên cơ sở quyết định cấp Bằng bảo hộ giống cây trồng của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo thủ tục đăng ký. Đặc điểm về nội dung quyền Như trên đã đề cập, khái niệm quyền SHTT trong phạm vi hẹp có thể được hiểu là quyền sở hữu đối với tài sản trí tuệ. Theo chế định về tài sản và quyền sở hữu của Bộ luật Dân sự 2015 quy định, quyền sở hữu bao gồm ba quyền năng cơ bản là quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu. Tuy nhiên, khác với các tài sản thông thường, nội dung quyền sở hữu đối với tài sản trí tuệ có những điểm đặc thù sau: - Quyền SHTT là một loại quyền sở hữu nhưng các quyền năng chủ yếu tập trung vào quyền sử dụng và quyền định đoạt.
Bản chất của các đối tượng SHTT - tài sản trí tuệ là vô hình, nên việc nắm giữ, quản lý nó là không thể thực hiện được một cách bình thường như các dạng tài sản hữu hình khác. Đặc tính vô hình và chức năng thông tin - tri thức cho phép loại đối tượng SHTT này có khả năng di động một cách không có giới hạn và đồng thời hiện diện ở nhiều nơi 5 nên việc thực hiện quyền năng chiếm hữu dạng tài sản này là không thể và không có ý nghĩa. Mặt khác, tài sản trí tuệ là kết quả của hoạt động sáng tạo. Đặc tính sáng tạo và đổi mới của dạng tài sản này đòi hỏi con người luôn phải tìm tòi, khám phá, làm chủ các thông tin và tri thức liên quan.
Việc độc quyền chiếm giữ tài sản trí tuệ sẽ làm cản trở nhu cầu phát triển của xã hội và kìm nén hoạt động sáng tạo. Cần lưu ý rằng, để kiểm soát quyền năng chiếm hữu cần giữ bí mật đối với tài sản trí tuệ, nhưng điều này lại mâu thuẫn với các quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản trí tuệ. Các đối tượng SHTT chỉ có giá trị và mang lại lợi ích nếu được khai thác, sử dụng, chuyển giao, nhưng chính các hoạt động này lại bộc lộ bản chất của tài sản trí tuệ. Ngược lại, việc giữ bí mật bản chất tài sản trí tuệ cũng đồng nghĩa với việc không thể sử dụng tài sản trí tuệ đó.
Như vậy, đối với quyền SHTT, quyền năng chiếm hữu không thể cùng đồng thời tồn tại và thực hiện song song với các quyền năng sử dụng và định đoạt. - Quyền sử dụng là quyền độc quyền của chủ sở hữu tài sản trí tuệ.