TRƯỜNG ĐẠI HỌC VÕ TRƯỜNG TOẢN KHOA Y Giáo trình SINH LÝ II ĐƠN VỊ BIÊN SOẠN: KHOA Y Hậu Giang, 2017 MỤC LỤC SINH LÝ HỆ TUẦN HOÀN. 1 SINH LÝ HÔ HẤP. 30 SINH LÝ HỆ TIÊU HÓA. 51 SINH LÝ HỆ SINH DỤC.
82 SINH LÝ SINH DỤC NAM. 82 SINH LÝ HỆ NỘI TIẾT. 94 SINH LÝ HỆ THẦN KINH. 157 Giáo trình Sinh Lý II SINH LÝ HỆ TUẦN HOÀN Hệ tuần hoàn bao gồm tim và các mạch máu có nhiệm vụ vận chuyển và phân phối máu đến tất cả các phần của cơ thể.
Hệ tuần hoàn gồm hai vòng đại tuần hoàn và tiểu tuần hoàn. Vòng đại tuần hoàn mang máu giàu oxy và các chất dinh dưỡng từ tim trái theo động mạch chủ đến các động mạch nhỏ vào mao mạch để cung cấp cho các mô. Máu từ các mao mạch ở mô nhận khí carbonic và các chất chuyển hóa tập trung về các tĩnh mạch lớn rồi đổ về tim phải. Vòng tiểu tuần hoàn mang máu tĩnh mạch từ tim phải theo động mạch phổi đến phổi nhận oxy và thải khí carbonic, chuyển thành máu động mạch, rồi theo 4 tĩnh mạch phổi đổ về tim trái.
SINH LÝ TIM Mục tiêu: 1. Phân tích được đặc điểm cấu tạo chức năng của tim 2. Trình bày được hệ thống tạo nhịp và dẫn truyền của tim 3. Phân tích được các biểu hiện của chu chuyển tim.
Trình bày được cấu tạo chức năng của hệ mạch 1. ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO CHỨC NĂNG CỦA TIM Tim có chức năng như một cái bơm, vừa đẩy vừa hút máu, trong 24 giờ tim bóp 10. Tim là động lực chính của hệ tuần hoàn với hai phần chuyên biệt nhưng lại làm việc cùng một lúc: - Tim phải gồm nhĩ phải và thất phải: hút máu từ tĩnh mạch chủ trên và chủ dưới về, đồng thời bơm máu vào động mạch phổi tạo ra vòng tiểu tuần hoàn. - Tim trái gồm nhĩ trái và thất trái: hút máu từ 4 tĩnh mạch phổi về, đồng thời bơm máu vào động mạch chủ tạo ra vòng đại tuần hoàn.
Cơ tim Tim là khối cơ rỗng, nặng khoảng 300g, được bao bọc bên ngoài bằng bao sợi, gọi là bao tim. Toàn bộ tim được cấu tạo bằng cơ tim, bên trong là nội tâm mạc, bên ngoài là ngoại tâm mạc. Nội tâm mạc có vách ngăn ở giữa, chia thành tim phải và tim trái. Mỗi nửa tim chia thành 2 buồng tâm nhĩ và tâm thất.
Tâm nhĩ 1 Giáo trình Sinh Lý II có thành cơ mỏng, áp suất trong nhĩ thấp, tâm nhĩ có chức năng như là một bình chứa hơn là một bơm đẩy máu. Tâm thất có thành cơ dày hơn tâm nhĩ, tâm thất phải có áp suất trung bình bằng 1/7 của tâm thất trái nên thành mỏng hơn tâm thất trái. Cơ tim vừa có tính chất của một cơ vân, vừa có tính chất của một cơ trơn nên co bóp rất khỏe.2 Hệ thống van tim Giữa tâm nhĩ và tâm thất có van 2 lá ở tim trái và van 3 lá ở tim phải (van nhĩ thất). Giữa tâm thất và động mạch chủ và phổi có van tổ chim (van động mạch).
Bảo đảm máu di chuyển một chiều từ nhĩ đến thất ra động mạch. Hệ thống tạo nhịp và dẫn truyền của tim Tim có khả năng tự phát ra xung động và dẫn truyền xung động ra khắp tim đảm bảo cho tim co bóp nhịp nhàng. Một số sợi cơ tim được biệt hóa cao để thực hiện nhiệm vụ này gọi là hệ thống tạo nhịp và dẫn truyền của tim. * Hệ thống tạo nhịp của tim: là các mô nút, tim người có hai mô nút.
Nút nhĩ thất Tĩnh mạch chủ trên trên Bó His Nút xoang Nhánh trái Nhánh phải Phân nhánh trái trước Mạng Purkinje Phân nhánh trái sau Hình 5. Hệ thống dẫn truyền trong tim - Nút xoang: còn gọi là nút Keith – Flack hay S-A (sinus-atrium), dài khoảng 8mm, dày 2mm, nằm trong rãnh nơi tĩnh mạch chủ đổ vào nhĩ phải, gồm 2 loại tế bào chính: + Tế bào tròn nhỏ, có ít bào quan bên trong tế bào và một ít sợi tơ cơ. Chúng có thể là tế bào tạo nhịp. 2 Giáo trình Sinh Lý II + Tế bào dài, có hình dạng trung gian giữa tế bào tròn nhỏ và tế bào cơ nhĩ bình thường.
Các tế bào này có thể có chức năng dẫn truyền xung động trong mô nút và đến các vùng lân cận. - Nút nhĩ thất: còn gọi là nút Aschoff – Tawara hay A-V (atrium-ventricle), dài khoảng 22mm, rộng 10 mm, dày 3 mm, nằm ở phần sau, bên phải của vách liên nhĩ, cạnh lỗ xoang tĩnh mạch vành. Nút nhĩ thất có chứa 2 loại tế bào tương tự nút xoang. * Hệ dẫn truyền: - Hệ thống dẫn truyền chính thức: xung động từ nút xoang sẽ truyền qua cơ nhĩ đến nút nhĩ thất và tỏa ra cả hai tâm thất, bao gồm: + Nút xoang: phát và dẫn truyền xung động ra mô lân cận.
+ Các bó liên nút trước (Bachman), giữa (Wenckeback), sau (Thorel): dẫn truyền xung động từ nút xoang ra toàn bộ cơ tâm nhĩ và tập trung lại tại nút nhĩ thất. + Nút nhĩ thất: xung động ngừng lại khoảng 0,07 giây trước khi đi tiếp xuống bó his. + Bó His: xung động theo bó His chạy dưới nội tâm mạc xuống phía bên phải của vách liên thất khoảng 1cm, rồi chia thành hai nhánh phải và trái. + Nhánh phải và trái: nhánh phải tiếp tục đi xuống phía phải vách liên thất rồi chia thành mạng Purkinje để đến nội tâm mạc thất phải.
Còn nhánh trái xuyên qua vách liên thất, chia ra một nhánh phía trước mỏng, nhỏ (phân nhánh trái trước) và nhánh phía sau dày (phân nhánh trái sau), rồi cùng chia thành mạng Purkinje để đến nội tâm mạc thất trái. + Mạng Purkinje: dẫn truyền xung động trong cơ thất từ nội tâm mạc ra ngoại tâm mạc. - Các đường dẫn truyền phụ bình thường không hoạt động: + Cầu Kent: bắc cầu qua nút nhĩ thất do vậy có thể dẫn truyền tắt xung động qua nút nhĩ thất. + Đường James: là đoạn cuối của đường Thorel đi vòng qua nút nhĩ thất rối nối vào phần cuối của nút này.
Khi các đường dẫn truyền phụ này hoạt động sẽ làm xung động đi từ nhĩ xuống thất nhanh hơn gây hội chứng kích thích sớm. HOẠT ĐỘNG ĐIỆN CỦA CƠ TIM Các hoạt động điện trong tim khơi mào co bóp tim. Rối loạn hoạt động điện của tim sẽ dẫn đến rối loạn nhịp và có thể nặng đến mức gây tử vong. Điện thế 3 Giáo trình Sinh Lý II màng được qui ước là trị số điện thế mặt trong so với mặt ngoài màng tế bào, bình thường bên trong âm hơn so với bên ngoài.1 Cơ chế ion của điện thế màng cơ tim - Hoạt động điện học của màng tế bào cơ tim gồm có 4 pha: + Pha 0: Pha khử cực nhanh.
+ Pha 1: Pha tái cực sớm. + Pha 2: Pha bình nguyên. + Pha 3: Pha tái cực nhanh. + Pha 4: Pha nghỉ (phân cực) Cơ thất Nút xoang Cơ nhĩ Hình 5.
Hoạt động điện học của màng tế bào cơ tim - Về mặt điện học, tế bào cơ tim được chia hai loại: + Loại đáp ứng nhanh: cơ nhĩ, cơ thất, mô dẫn truyền. + Loại đáp ứng chậm: nút xoang, nút nhĩ thất.1 Cơ chế ion của điện thế màng cơ tim loại đáp ứng nhanh - Pha 0: pha khử cực nhanh + Hiện tượng: màng tế bào tăng tính thấm đối với Na+ đột ngột (khi đạt đến điện thế ngưỡng khoảng -70mV) do mở các kênh nhanh (fast channel, kênh Na+). Na+ di chuyển ồ ạt từ ngoài vào trong tế bào. + Kết quả: bên trong tế bào tích điện (+) hơn bên ngoài màng tế bào.
Điện thế màng bằng khoảng +30mV (hiện tượng “quá đà” hay đảo ngược điện thế (overshoot). - Pha 1: pha tái cực sớm + Hiện tượng: có sự kích thích thoáng qua kênh K+. Kênh K+ mở làm K+ từ trong đi ra ngoài tế bào. + Kết quả: điện thế màng hơi giảm.
4 Giáo trình Sinh Lý II - Pha 2: pha bình nguyên + Hiện tượng: mở các kênh chậm (slow channel, kênh Ca++) làm cho Ca++ và một ít Na+ di chuyển từ ngoài và trong các bào quan vào trong bào tương tế bào. Trong khi đó kênh K+ vẫn đang mở, K+ đi ra ngoài tế bào theo bậc thang nồng độ. + Kết quả: điện thế màng hầu như không đổi. Trong pha này khi Ca ++ đi vào trong tế bào sẽ gây ra co cơ tim.
- Pha 3: pha tái cực nhanh + Hiện tượng: bất hoạt kênh chậm trong khi K+ vẫn tiếp tục đi ra ngoài. Đồng thời lúc này bơm Ca++ hoạt động bơm Ca++ ra ngoại bào và vào trong các bào quan, chấm dứt co cơ. Vào cuối pha 3, bơm Na+-K+-ATPase bắt đầu hoạt động bơm Na+ ra ngoài và K+ vào trong tế bào theo tỷ số 3:2. + Kết quả: điện thế màng giảm nhanh.
- Pha 4: pha nghỉ (phân cực) + Hiện tượng: cơ tim có tính thấm tương đối với K+, K+ có khuynh hướng khuếch tán từ trong ra ngoài tế bào theo bậc thang nồng độ. Trong khi đó nhiều ion (-) (như protein) không khuếch tán ra theo. + Kết quả: Bên trong tế bào âm hơn so với bên ngoài màng tế bào. Điện thế màng khoảng - 90mV và ổn định.2 Cơ chế ion của điện thế màng cơ tim loại đáp ứng chậm Tế bào cơ tim loại đáp ứng chậm có một số đặc điểm hoạt động điện khác loại đáp ứng nhanh: - Pha 0: không dốc nhiều, khử cực chậm hơn và không có đảo ngược điện thế, không có overshoot.
- Sau khử cực dòng Ca++ và Na+ vào trong tế bào theo kiểu gần giống như pha bình nguyên của loại đáp ứng nhanh nhưng không tạo được pha 1 (tái cực sớm) và pha 2 (bình nguyên). - Pha 4: phân cực màng yếu do vậy điện thế màng lúc nghỉ ít âm hơn so với loại đáp ứng nhanh (gần điện thế ngưỡng hơn). Đồng thời pha 4 cũng không ổn định, màng tế bào giảm tính thấm từ từ đối với K+. Do đó điện thế màng tăng dần đến lúc đạt điện thế ngưỡng khoảng -40mV và phát sinh điện thế động mới.
Như vậy loại cơ tim đáp ứng chậm này có khả năng tự phát xung động. Các tính chất sinh lý của cơ tim trong hoạt động điện 2. Tính hưng phấn Tính hưng phấn của tế bào cơ tim là khả năng đáp ứng bằng điện thế hoạt động của tế bào cơ tim với một kích thích. Kích thích dưới ngưỡng thì cơ tim 5 Giáo trình Sinh Lý II không đáp ứng, kích thích bằng ngưỡng hoặc trên ngưỡng thì cơ tim đáp ứng tối đa (qui luật “tất cả hoặc không”).