CHƯƠNG 1:TÔNG QUAN QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP Mục tiêu chương Sau khi hoàn thành chương này, người học có thể: - Trình bày được khái niệm quản trị, quản trị doanh nghiệp; Phân biệt được sự khác nhau giữa hiệu suất quản trị và hiệu quả quản trị, hiểu rõ tính khoa học và nghệ thuật trong quản trị; - Trình bày được các cấp bậc quản trị trong doanh nghiệp, từ đó xác định các kỹ năng cần thiết để thực hành quản trị; Hiểu biết về đặc điểm của các loại hình doanh nghiệp theo quy định hiện hành.1 Các khái niệm cơ bản 1.1 Quản trị Trên thế giới, các thuật ngữ liên quan đến quản trị đã xuất hiện từ rất lâu trong xà hội loài người. Một số tài liệu chỉ ra rằng từ "nhà quản trị” (manager) đã có từ khoảng năm 1588 để chỉ những người tổ chức và điều hành các hoạt động của một tổ chức kinh doanh hoặc tồ chức công cộng. Nguồn gốc của từ quản trị (management) trong tiếng Latinh là maneggiare' (dịch ra tiếng anh là handle), có nghĩa là giải quyết các vấn đề xảy ra trong các tình huống cụ thể, với những công việc, con người cụ thể. Nhiều nhà nghiên cứu và thực hành quản trị đã nỗ lực đưa ra nhiều khái niệm khác nhau nhằm xác định các vấn đề liên quan đến công việc mà Hình 1.1: Frederick các nhà quản trị cần thực hiện.
Trong đó, định Winslow Taylor nghĩa của Taylor (1911), người được ví như cha (Nguồn: Aguirre, 2022) đẻ của khoa học quản trị cho ràng: “Quản trị là nghệ thuật biết cần phải làm gì và đạt được điều đó với kết quả tốt nhất, ít tốn chi phí nhất”. 'Theo https://www.eu/ 1 Theo Fayol (1916), một tác giả, kỹ sư, chủ khai thác, giám đốc mỏ và cũng đồng thời là người đã phát triển học thuyết về quản trị thường được biết với tên gọi là học thuyết Fayol, thì: “Quản trị là dự báo và lập kế hoạch, tổ chức, ra lệnh, phối hợp, và kiểm soát”. Ông cũng chỉ ra 5 chức năng chính của quản trị bao gồm: lập kế hoạch, tổ chức, Hĩnh 1.2: Henri Fayol nhân sự, kiểm soát và chỉ đạo. Sau này các (Nguồn: Aguirre, 2022) nhà nghiên cứu quản trị đã tồng hợp dựa trên lý thuyết của Fayol thành bốn chức năng chính của quản trị bao gồm: (1) Hoạch định; (2) Tổ chức; (3) Lãnh đạo; (4) Kiểm soát.
Quan điểm này hiện được chấp nhận rộng rãi trong giới nghiên cứu và thực hành quản trị. Các tác giả Robbins, Decenzo và Coulter (2013) định nghĩa rằng “quản trị là một quá trình giúp đạt được công việc một cách có hiệu quả và hiệu suất, bằng cách sử dụng con người và thông qua con người”. Cụm từ quá trình được sử dụng nhằm nhấn mạnh một loạt các hoạt động được thực hiện liên tục và có liên quan với nhau, bao gồm các chức năng mà nhà quản trị phải thực hiện. Một định nghĩa khác được nêu lên bởi Daft (2016), theo đó “quản trị là việc đạt được mục tiêu của tổ chức một cách có hiệu suất và hiệu quả thông qua hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát các nguồn lực của tổ chức.” Như vậy có thể thấy rằng, nơi nào có tổ chức, nơi đó cần có hoạt động quản trị.
Vậy tổ chức là gì? Tổ chức có đặc điểm là một tập thể có cơ cấu tổ chức nhất định nhằm phục vụ cho mục tiêu chung là tìm kiếm lợi nhuận hoặc lợi ích nhất định nào đó. Ba đặc điểm thường thấy của một tổ chức đó là: (1) Con người; (2) Mục tiêu chung; (3) cấu trúc (Robbins và cộng sự, 2013). Ví dụ một doanh nghiệp có thể thiết lập mục tiêu là “Trở thành tập đoàn hàng đầu ở Châu Á trong lĩnh vực thức uống và thực phẩm”. Đe đạt được điều này, doanh nghiệp đó cần có con người, đây chính là yếu tố chủ chốt thứ hai của tổ chức.
Con người ra các quyết định, thực hiện quyết định và biến mục tiêu thành hiện thực. Cuối cùng, để đạt được mục tiêu một cách hiệu quả với hiệu suất tốt nhất, cần có sự phân chia quyền hạn, 2 trách nhiệm của mỗi cá nhân, bộ phận trong tồ chức, xây dựng các quy định, nguyên tắc, hướng dẫn. Đó chính là thiết lập một cấu trúc tổ chức cho doanh nghiệp. Mỗi tồ chức được hình thành với mục tiêu, những con người và hệ thống cấp bậc khác nhau.
Một số tổ chức thành lập vì mục tiêu sinh lợi (doanh nghiệp, công ty, xí nghiệp), trong khi đó một số tổ chức khác được hình thành nhằm mang lại các lợi ích cho cộng đồng hoặc một số nhóm yếu thế (tổ chức từ thiện, hiệp hội bảo vệ trẻ em và phụ nữ). Nhưng nhìn chung thì tổ chức nào cũng óần có hoạt động quản trị để giúp họ đạt được mục tiêu đề ra với những tiềm lực hữu hạn một cách hiệu quả nhất.2 Doanh nghiệp Theo Luật Doanh nghiệp (2020) thì: “Doanh nghiệp là một tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được thành lập hoặc đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh”. Trong đó, hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được hiểu là thực hiện một cách liên tục, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình từ đầu tư, sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận 2. Các doanh nghiệp có những mục tiêu khác nhau, điển hình như các doanh nghiệp xã hội với mục tiêu hoạt động nhằm giải quyết vấn đề xã hội, môi trường vì lợi ích cộng đồng3.
Tuy rằng mỗi loại hình doanh nghiệp sẽ có những đặc điểm riêng, nhưng nhìn chung các doanh nghiệp sẽ có cùng các vấn đề nồi bật sau đây: - Tính hợp pháp: Đại diện doanh nghiệp phải nộp hồ sơ đến cơ quan có thẩm quyền để đăng ký kinh doanh và nhận giấy phép đăng ký thành lập doanh nghiệp. Chỉ đến khi doanh nghiệp được cấp phép kinh doanh thì mới được công nhận về mặt pháp lý, được pháp luật bảo hộ và chịu sự ràng buộc bởi các quy định có liên quan. - Tính tổ chức: Thể hiện qua việc có cơ cấu tổ chức, phân chia các phòng ban, chức năng; có trụ sở giao dịch hoặc đăng ký và có tài 2 Theo Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2020 3 Theo Điều 10 Luật Doanh nghiệp 2020 3 sản riêng để quản lý; có tư cách pháp nhân (ngoại trừ loại hình doanh nghiệp tư nhân). Hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc cung cấp dịch vụ một cách thường xuyên.3 Quản trị doanh nghiệp Hoạt động sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp bao gồm nhiều nguồn lực khác nhau, bao gồm nguồn nhân lực, tài chính, máy móc, thiết bị, công nghệ, thông tin và nguyên vật liệu đầu vào.
Tuy nhiên, các yếu tố này đều có giới hạn, vì vậy việc sử dụng chúng một cách tối ưu đế đạt được mục tiêu của doanh nghiệp là điều rất quan trọng. Để đạt được điều này, doanh nghiệp cần thực hiện một loạt các hoạt động phối họp như lập kế hoạch, đặt ra mục tiêu, phương pháp thực hiện, sắp xếp công việc và động viên nhân viên đế đạt được mục tiêu chung. Các hoạt động kiểm tra cũng rất quan trọng để đảm bảo rằng doanh nghiệp sản xuất hàng hóa và dịch vụ với chi phí thấp nhất. Hay nói cách khác, doanh nghiệp cần thực hiện các hoạt động quản trị nhằm đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất.
Theo Robbins và cộng sự (2013) định nghĩa “Quản trị doanh nghiệp là quá trình chỉ đạo và giám sát các hoạt động và chính sách của một doanh nghiệp với mục tiêu đạt được các mục tiêu và mục đích được xác định. Để đạt được mục tiêu này, quản trị doanh nghiệp phải tổ chức, phối hợp và kiểm soát tất cả các nguồn lực có sẵn để đạt được các mục tiêu đã đặt ra. Quản trị doanh nghiệp cũng đóng vai trò quan trọng trong việc xác định chiến lược của doanh nghiệp và đảm bảo rằng tất cả các phần của doanh nghiệp hoạt động cùng nhau để đạt được mục tiêu chung của doanh nghiệp.” Vì vậy, quản trị doanh nghiệp là một yếu tố quan trọng giúp doanh nghiệp đạt được hiệu quả kinh tế cao nhất. Quản trị doanh nghiệp hiểu đơn giản nhất, là thực hành quản trị trong doanh nghiệp.
Đây là việc nhà quản trị thực thi bốn chức năng bao gồm hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát một cách liên tục và có định hướng, nhằm tận^dụng nguồn lực có giới hạn để đạt được mục tiêu mà doanh nghiệp đã để ra. Quá trình quản trị doanh nghiệp phải được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật và quy chuẩn của xã hội.3: Hệ thống thông tin quán trị trong doanh nghiệp (Nguôn: Tông hợp) Quản trị doanh nghiệp và hệ thống thông tin quản trị có mối liên hệ chặt chẽ với nhau trong quá trình quản lý và điều hành doanh nghiệp. Hệ thống thông tin quản trị trong doanh nghiệp là sự tương tác, trao đối qua lại về thông tin giữa hai nhóm chính: (1) Chủ thể quản trị và (2) Đối tượng quản trị. Chủ thể quản trị là các nhà quản trị, có vai trò đưa ra các thông tin về hướng dẫn, chỉ huy, định hướng cho đối tượng quản trị.
Đối tượng quản trị là nhân viên, tiếp nhận thông tin từ Nhà quản trị, thực thi các nhiệm vụ và cung cấp các thông tin phản hồi cần thiết. Hai chủ thể này tương tác với nhau thông qua sự dịch chuyển của các dòng thông tin. Dòng thông tin từ chủ thể quản trị truyền xuống đối tượng quản trị gọi là dòng thông tin chỉ huy hay là dòng thông tin thuận. Dòng thông tin ngược đi từ đối tượng quản trị đến chủ thể quản trị, còn được gọi là dòng thông tin phản hồi.
Nếu chỉ có dòng thông tin thuận mà không có dòng thông tin phản hồi sẽ khiến cho hoạt động quản trị gặp khó khăn hay chủ thể quản trị mất đi khả năng quản trị.2 Hiệu quả quản trị và hiệu suất quản trị Hiệu quả quản trị và hiệu suất quản trị là hai khái niệm quan trọng trong lĩnh vực quản trị.