mở đầu, diễn biến, kết thúc không rõ ràng như chú ý, tâm. Các thuộc tính tâm lí là những hiện tượng tâm lí tương đối ổn định, khó hình thành và khó mất di, tạo thành những nét riêng của nhân cách như bốn nhóm thuộc tính tâm lí cá nhân: xu hướng, tính cách, khí chất, năng lực. Các hiện tượng tâm lí nói trên có quan hệ chặt chẽ với nhau và ảnh hưởng đến sự phát triển của nhau trong đời sống con người. Đặc điểm của hiện tượng tâm lí người Hiện tượng tâm lí con người có các đặc điểm đặc trưng khác với các hiện tượng sinh học, hoá học, vật lí.
của sự vật hiện tượng trong hiện thực khách quan. Hiện tượng tâm lí là hiện tượng tỉnh thân gắn bó chặt chế với con người như người xưa thường nói “hồn” và “xác”, có thể nói còn tám lí và mất tâm lí đồng nghĩa với việc tồn tại hay không tồn tại con người theo đúng nghĩa con người. Nói như nhà tâm lí học, nhà triết học, nhà dinh học người Pháp R. Đẻ Các: “Tôi tư duy là tôi tồn tại”®).
Hiện tượng tâm lí cá nhân có sức mạnh to lớn /rong đời sống và hoạt động con người. Hiện tượng tâm lí chỉ là hiện tượng tỉnh thần nhưng lại có sức mạnh to lớn diệu kì, nhiều khi hơn cả hiện tượng vật chất. Ví dụ : “ngôn ngữ” của bác sĩ trong chữa bệnh cho bệnh nhân tuỳ theo cách nói có thể là “cứu người” và có thể dưa đến sự tuyệt vọng của bệnh nhân; “lời khen” của giáo viên tiểu học đối với học sinh làm tăng hứng thú luyện tập rất nhiều cho học sinh tiểu học, từ đó nhanh chóng hình thành kĩ năng, kĩ xảo là thói quen cho các em. Vì vậy người giáo viên tiểu học nên vận dụng đặc điểm này của tâm lí con người trong dạy học và giáo dục học sinh.
l Hiện tượng tâm lí là biện tượng tỉnh thần được phản ánh và tồn tại trong não bộ của con người và được bộc lộ ra ngoài thông qua phản ứng, hành vi, cử chỉ. Việc hiểu biết đặc điểm chung của hiện tượng tâm lí người không chỉ có ý nghĩa quan trọng trong giáo dục học sinh tiểu học mà còn chỉ ra cách tiếp cận các hiện tượng tâm lí người khác với các hiện tượng sinh học, vật lí, hoá học, giáo dục. trong nghiên cứu. ` ® Phạm Minh Hạc (1980), Nhập môn Tâm lí học, NXB Giáo dục.
Bản chất hiện tượng tâm lí người Có nhiều quan niệm khác nhau về bản chất hiện tượng tâm lí người, như: tâm lí học duy tâm, tâm lí học duy vật thô sơ. Quan niệm tâm lí học duy vật biện chứng về bản chất của hiện tượng tâm lí người: Tâm lí là sự phản ánh hiện thực khách quan vào não người, tâm lí người mang tính chủ thể, tâm lí người có bản chất xã hội - lịch sử. a) Tâm lí người là sự phản ánh hiện thực khách quan vào não người — Tâm lí là sự phản ánh hiện thực khách quan, có nghĩa là muốn có hiện tượng tâm lí cần có hai điều kiện cần và đủ: Hiện thực khách quan là nguồn gốc, nội dung của phản ánh tâm lí và não, giác quan - cơ sở vật chất để sinh ra tâm lí con người. Tâm lí người chẳng qua là sự phản ánh hiện thực khách quan vào não và thông qua não.
Nếu thiếu một trong hai điều kiện trên thì sẽ không có bất cứ hình thức tâm lí nào được nảy sinh. Não và hiện thực khách quan tác động qua lại với nhau theo cơ chế phản xạ - phản xạ có điều kiện dé sinh ra tâm lí người. Mác:Tâm lí, ý thức chẳng qua là hiện thực khách quan chuyển vào trong não và cải tổ trong não). b) Tâm lí mang tính chủ thể Phản ánh tâm lí không phải là sự phản chiếu thụ động của chiếc gương soi đối với sự vật, hiện tượng của thế giới khách quan.
Phản ánh tâm lí là sự phản ánh các tác động bên ngoài của con người khúc xạ qua những đặc điểm bên rong của người đó (thông qua kinh nghiệm, tri thức, nhu cầu, khát vọng, chí hướng), vì thế, hình ảnh tâm lí mang tính chủ thể, mang đậm màu sắc cá nhân (hay nhóm người) mang hình ảnh tâm lí đó, hay nói cách khác, hình ảnh tâm lí là hình ảnh chủ quan về hiện thực khách quan. Tính chủ thể của hình ảnh tâm lí thể hiện ở chỗ: mỗi chủ thể trong khi tạo ra hình ảnh tâm lí về thế giới đã dưa vốn hiểu biết, vốn kinh nghiệm, đưa cái riêng của mình (về nhu cầu, xu hướng, tính khí, năng lực). vào hình ảnh đó, làm cho nó mang đậm màu sắc chủ quan. Hay nói cách khác, con người phản ánh thế giới bằng hình ảnh tâm lí, thông qua “lăng kính chủ quan” của mình.
Do dâu mà tâm lí người này khác tâm lí người kia về thế giới khách quan? Điều đó do nhiều yếu tố chỉ phối: /rước hét, do mỗi con người có những đặc điểm riêng về sinh học: cơ thể. giác quan, hệ thần kinh và não bộ. 7 hai, mỗi người có hoàn cảnh sống khác nhau, điều kiện giáo dục không như nhau và đặc biệt là 0 Phạm Minh Hạc (1980). Nhập món Tâm lí học, NXB Giáo dục Hà Nội.
mỗi cá nhân thể hiện nhu cầu, vốn tri thức, kinh nghiệm, mức độ tích cực hoạt động, tích cực giao lưu khác nhau trong cuộc sống. Vì thế tâm lí người này khác tâm lí người kia. c) Tâm lí người mang bản chất xã hội - lịch sứ Tâm lí người là sự phản ánh hiện thực khách quan, là chức năng của não, là kinh nghiệm xã hội lịch sử biến thành cái riêng của mỗi người. Tâm lí con người khác xa với tâm lí của một số loài động vật cao cấp ở chỗ: tâm lí người có bản chất xã hội và mang tính lịch sử.
Thể hiện : + Tâm lí người có nguồn gốc là thế giới khách quan, trong đó nguồn gốc xã hội là cái quyết định. + Tâm lí người là sản phẩm của hoạt động và giao tiếp của con người trong mối quan hệ xã hội. + Tâm lí của mỗi cá nhân là kết quả của quá trình hấp thu, lĩnh hội vốn kinh nghiệm xã hội, nền văn hoá xã hội, thông qua hoạt động, giao tiếp, trong đó giáo dục giữ vai trò chủ đạo. Hoạt động của con người và mối quan hệ giao tiếp của con người trong xã hội có tính quyết định.
+ Tâm lí của mỗi con người hình thành, phát triển và biến đổi cùng với sự phát triển của lịch sử cá nhân, lịch sử dân tộc và cộng đồng. Tâm lí của mỗi con người chịu sự chế ước bởi lịch sử của cá nhân và cộng đồng. Ở góc độ phương pháp nghiên cứu hiểu biết tâm lí con người đã chỉ ra rất nhiều khi tiếp cận, nghiên cứu tâm lí học sinh tiểu học. - Cách tiếp cận nghiên cứu tâm lí học sinh tiểu học Id riếp cận nghiên cứu khách quan và hệ phương pháp nghiên cứu khách quan chứ không phải bằng các phương pháp chủ quan; Cách tiếp cận nghiên cứu hiện tượng tâm lí khác về bản chất với tiếp cận các hiện tượng sinh học, hoá học, vật lí trong con người.
Tại sao như vậy? Vì hiện tượng tâm lí là hiện tượng tỉnh thần nằm trong não bộ con người. Vì vậy nghiên cứu tâm lí con người, tâm lí học sinh tiểu học phải nghiên cứu gián riếp chứ không phải trực tiếp, có nghĩa là thông qua hiện tượng bên ngoài, hành vi cử chỉ để đoán nhận và hiểu đời sống tâm lí bên trong của học sinh tiểu học như thông qua bức vẽ của học sinh tiểu học có thể đoán nhận trí tuệ, tình cảm, tính cách của các em. Kết luận về hứng thú học tập của học sinh tiểu học qua các hành vi bên ngoài: giờ giấc đi học, thái độ xây dựng bài trong giờ học, chuẩn bị bài, thái độ đứng trước bài toán khó. hoặc thông qua hành động giải bài tập, giải một bài toán: l +.
+ 100 =? để kết luận về khả năng khái quát hoá trong tư duy của học sinh tiểu học. Nghiên cứu tâm lí con người nói chung và tâm lí học sinh tiểu học nói riêng chỉ có một con đường: nghiên cứu gián tiếp và ø hệ phương pháp nghiên cứu khách quan chủ đạo (quan sát, điều tra bằng phiếu, trắc nghiệm tâm lí. Điều này không có nghĩa là phủ nhận phương pháp nội quan trong nghiên cứu tâm lí học sinh tiểu học vì qua phương pháp nội quan (tự quan sát) biết được đời sống tâm lí của học sinh tiểu học thực nhất và hiểu được những kết quả nghiên cứu của các phương pháp nghiên cứu khách quan. Cần nhận thức rõ khi nghiên cứu tâm lí học sinh tiểu học tự quan sát chỉ là phương pháp hỗ trợ bên cạnh các phương pháp nghiên cứu khách quan khác nhau.
— Hiện tượng tâm lí con người có cơ sở tự nhiên là các đặc điểm sinh học (não, giác quan, hệ thần kinh, cơ thể. Vì thế trong nghiên cứu tâm lí học sinh tiểu học, 0e hiện chức năng giải thích của nghiên cứu khoa học phải thấy được mối quan hệ giữa các đặc điểm sinh học và các đặc điểm nhân cách học sinh tiểu học. Như học sinh tiểu học.có đặc điểm tính cách điển hình là hành vi không chủ định nhiều, hồn nhiên : giơ tay phát biểu nhiều, hay thưa cô. Điều này bị quy dinh bởi đặc điểm hệ thần kinh của học sinh tiểu học.
Hệ thần kinh của học sinh tiểu học dang thời kì phát triển mạnh. Đây là thời kì não bộ phát triển cả về thời lượng, trọng lượng lẫn cấu tạo, đến khoảng 9 - 10 tuổi não của các em căn bản được hoàn thiện và chất lượng của nó được giữ lại trong suốt cuộc đời. Đây cũng là giai đoạn mà sự hình thành phản xạ có diều kiện diễn ra nhanh và nhiều. So với lứa tuổi trước, sự cân bằng giữa hai quá trình thần kinh cơ bản đã tốt hơn nhiều.
Tuy nhiên hưng phấn vẫn mạnh dẫn đến khả năng ức chế của hệ thần kinh còn yếu. ~— Khi nghiên cứu tâm lí học sinh tiểu học, việc giải thích các đặc điểm tâm lí đặc trưng của học sinh tiểu học còn dựa vào môi trường xã hội và quan hệ xã hội của các em mà trước hết với học sinh tiểu học môi trường có ý nghĩa quyết định nhất trong giai đoạn này là môi trường gia đình. Có thể nói rằng lứa tuổi học sinh tiểu học là lứa tuổi chịu ảnh hưởng mạnh nhất của môi trường giáo dục gia dình.