đặt vấn đề và lập giả thuyết, thu thập số liệu và dựa trên số liệu để rút ra kết luận. Đồng thời, khía cạnh đạo đức đều hiện diện trong mỗi bước của chu trình nghiên cứu khoa học. Các nghiên cứu trong khoa học quản trị được xây dựng trên một nền tảng của sự tin tưởng. Các nhà nghiên cứu tin tưởng rằng kết quả nghiên cứu của các tác giả khác là đúng đắn.
Xã hội cũng tin tưởng rằng kết quả nghiên cứu khoa học phản ánh trung thực, chính xác, khách quan các hiện tượng quản trị, kinh tế 7 xã hội. Vì vậy, đạo đức nghiên cứu trong nghiên cứu quản trị gắn liền với sự tôn trọng những nguyên tắc đạo đức căn bản của nhà nghiên cứu, như: Tính trung thực, khách quan và tuân thủ đúng quy trình xây dựng hiện tượng, đối tượng và khung lý luận nghiên cứu, cũng như trong quá trình thu thập số liệu và phân tích dữ liệu. Có nhiều tiêu thức khác nhau để phân loại các nghiên cứu khoa học. Trong phạm vi của cuốn sách này, chúng tôi xin được phép chỉ đề cập đến các phương pháp phân loại thông dụng và phổ thông nhất.
Phân loại nghiên cứu khoa học 1. Nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng Nghiên cứu cơ bản (còn được gọi là nghiên cứu nền tảng, nghiên cứu thuần túy hoặc nghiên cứu hàn lâm) là một nghiên cứu có hệ thống hướng tới sự phát triển tri thức hay sự hiểu biết về các khía cạnh cơ bản của hiện tượng. Nghiên cứu cơ bản được thực hiện mà không cần suy nghĩ về một mục tiêu cuối cùng mang tính ứng dụng thực tế. Nó được thực hiện bởi sự tò mò hoặc đam mê của nhà khoa học để trả lời những câu hỏi khoa học, do đó, động lực để thôi thúc các nhà khoa học tiến hành nghiên cứu là mở rộng kiến thức.
Nghiên cứu cơ bản được thực hiện trong tất cả các ngành khoa học và kỹ thuật. Nghiên cứu cơ bản tập trung vào xây dựng, khẳng định hoặc bác bỏ lý thuyết để giải thích hiện tượng quan sát được. Nghiên cứu cơ bản là nguồn gốc của hầu hết các ý tưởng khoa học mới và cách suy nghĩ về thế giới. Nó có thể được khám phá, mô tả hoặc giải thích.
Nghiên cứu cơ bản tạo ra những ý tưởng mới, nguyên tắc và lý thuyết, nó có thể không được sử dụng ngay lập tức nhưng lại hình thành cơ sở của sự tiến bộ và phát triển trong các lĩnh vực khác nhau. Nghiên cứu cơ bản hiếm khi giúp ta liên hệ trực tiếp với những vấn đề hàng ngày; tuy nhiên, nó kích thích cách suy nghĩ mới đối với các nhà nghiên cứu với một vấn đề trong tương lai. Phần lớn các nhà khoa học cho rằng những hiểu biết một cách cơ bản, nền tảng về tất cả các khía cạnh của 8 khoa học là thiết yếu cho phát triển. Nói một cách khác, nghiên cứu cơ bản đặt nền tảng cho nghiên cứu ứng dụng tiếp nối kết quả về sau.
Ví dụ, các nghiên cứu cơ bản nhằm tìm câu trả lời cho những câu hỏi như: Doanh nghiệp hình thành như thế nào? Cấu trúc của doanh nghiệp bao gồm những gì? Có gì đặc biệt trong cấu trúc doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp vừa và nhỏ? Nghiên cứu ứng dụng là một hình thức điều tra có hệ thống liên quan đến ứng dụng thực tế của khoa học. Nó truy cập và sử dụng một số phần của cộng đồng nghiên cứu, lý thuyết tích lũy, kiến thức, phương pháp, kỹ thuật, cho một nhà nước, doanh nghiệp cụ thể. Nghiên cứu ứng dụng mang đặc điểm khác với nghiên cứu cơ bản. Nó được tiến hành để giải quyết các vấn đề thực tế của thế giới đương đại, không phải chỉ là hiểu và mở mang kiến thức.
Có thể nói một cách khác rằng kết quả của các nhà nghiên cứu ứng dụng là để cải thiện cuộc sống con người. Nghiên cứu ứng dụng thường gắn với việc giải quyết vấn đề thực tế, ví dụ như nghiên cứu nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm nông nghiệp, nghiên cứu chữa trị một căn bệnh nào đó hay nghiên cứu cải thiện hiệu năng của các sản phẩm. Nghiên cứu ứng dụng thường sử dụng các phương pháp thực nghiệm. Ví dụ, nghiên cứu ứng dụng nhằm mục đích: Nâng cao năng suất của sản xuất lương thực; xử lý hoặc chữa trị một căn bệnh nào đó; cải thiện hiệu quả sử dụng năng lượng trong nhà, văn phòng hoặc các mô hình khác.
Xin nêu một ví dụ để minh họa cho sự khác biệt giữa nghiên cứu ứng dụng và nghiên cứu cơ bản. Giả sử một đề tài khoa học ứng dụng và một đề tài khoa học cơ bản cùng nghiên cứu Hệ thống phân tích CAMELS được áp dụng nhằm đánh giá độ an toàn, khả năng sinh lời và thanh khoản của ngân hàng. Phân tích theo mô hình CAMELS dựa trên 6 yếu tố cơ bản được sử dụng để đánh giá hoạt động của một ngân hàng, đó là: Mức độ an toàn vốn (Capital Adequacy), Chất lượng tài sản có (Asset Quality), Quản trị (Management), Lợi nhuận (Earnings), Thanh khoản (Liquidity) và Mức độ nhạy cảm thị trường (Sensitivity to Market Risk). Vậy công trình nghiên cứu của hai nhóm này có gì khác biệt? 9 - Nghiên cứu ứng dụng: Đề tài nghiên cứu ứng dụng có thể kiểm định mô hình này đối với một ngân hàng ở Việt Nam để xác định tác động của từng yếu tố tới hoạt động của một ngân hàng.
Tác giả sẽ thu thập dữ liệu về 6 yếu tố trên và kết quả hoạt động của ngân hàng. Sau đó đề tài phân tích để xác định mối liên hệ của 6 yếu tố đó với kết quả hoạt động. Trên cơ sở kiểm định, tác giả đề xuất kiến nghị để ngân hàng cải thiện các yếu tố có tác động mạnh nhất tới kết quả hoạt động của mình. - Nghiên cứu cơ bản: Đề tài nghiên cứu cơ bản cần tìm ra luận điểm lý thuyết mới cho mô hình này.
Tác giả có thể dựa trên trường phái lý thuyết khác hoặc tiến hành nghiên cứu định tính để đề xuất nhân tố mới (ngoài 6 nhân tố trên) tác động tới kết quả hoạt động hoặc mối quan hệ mới giữa các nhân tố này. Tác giả cũng có thể xác định điều kiện để từng nhân tố có tác động đến kết quả hoạt động của ngân hàng (biến điều kiện). Sau đó, đề tài sẽ phải thu thập dữ liệu để phát hiện hoặc kiểm định luận điểm lý thuyết của mình. Nghiên cứu quy nạp (inductive) và nghiên cứu diễn dịch (deductive) Phân loại tương quan giữa phương pháp nghiên cứu quy nạp (inductive) và nghiên cứu diễn dịch (deductive) được thể hiện như trong hình 1.1 sau đây: Hình 1.
Nghiên cứu quy nạp và nghiên cứu diễn dịch Nguồn: Thiétart và ctg., 2003 10 Nghiên cứu diễn dịch: Suy luận diễn dịch trước hết là phương tiện dùng để chứng minh một sự vật hoặc hiện tượng nào đó trong tự nhiên (Grawitz, 1996). Suy luận diễn dịch có đặc trưng là nếu các giả thuyết được lập ra ban đầu (tiền đề) đúng thì kết luận cũng phải đúng. Theo Aristotle, kiến thức đạt được nhờ sự suy luận. Muốn suy luận phải có tiền đề và tiền đề đó đã được chấp nhận.
Vì vậy, một tiền đề có mối quan hệ rất rõ ràng với kết luận. Suy luận suy diễn là suy luận đi từ cái chung tới cái riêng. Chúng ta có thể lấy ví dụ suy luận diễn dịch theo như sau: 1. Mọi doanh nghiệp nhỏ đều không có lợi thế quy mô.
Công ty X là doanh nghiệp nhỏ. Công ty X cũng không có lợi thế quy mô. Trong suy luận diễn dịch này, (1) và (2) là các tiền đề và (3) là kết luận. Không thể có trường hợp (3) sai trong khi các tiền đề (1) và (2) đúng.
Suy luận logic này được biểu diễn qua sơ đồ: Tất cả A là B, C lại là A, do vậy C là B. Trên thực tế, suy luận diễn dịch cũng không chỉ giới hạn trong thuyết tam đoạn luận trong ví dụ nêu trên. Các nhà lý luận phân biệt giữa diễn dịch hình thức và diễn dịch sáng tạo. Diễn dịch hình thức là quá trình suy luận dựa trên việc chuyển từ điều còn tiềm ẩn sang điều hiển nhiên, rõ ràng.
Và hình thức hay sử dụng nhất chính là thuyết tam đoạn luận nêu trên. Theo đó, suy luận là “một quá trình logic qua đó có thể rút ra từ một hay nhiều đề xuất ban đầu một kết luận” (Morfaux, 1980). Thuyết tam đoạn luận là một quá trình suy luận logic chặt chẽ, tuy nhiên đôi khi nó không đưa ra một kết luận giúp nhận thức một sự việc mới nào cả. Kết luận đã được giả định trước trong các tiền đề, và do đó, lý luận mang tính chất lặp lại và trùng ý.
Trái lại, theo suy luận sáng tạo, kết luận là một kiến thức mới mẻ mang lại hiểu biết mới. Kết luận không chỉ là biểu hiện của nội dung các tiền đề mà còn là các bước lý luận theo đó người ta chỉ ra một điều là kết quả của một điều khác. Do vậy, nghiên cứu diễn dịch là suy luận dựa trên cách tiếp cận giả thuyết - suy luận. Cách tiếp cận này dựa trên việc xây dựng một hay nhiều giả thuyết và 11 sau đó đặt các giả thuyết đó trước một thực tế.
Mục đích là để đưa ra đánh giá về sự thích đáng của giả thuyết được đưa ra ban đầu. Nghiên cứu quy nạp: Vào đầu những năm 1600, Francis Bacon đã đưa ra một cách tiếp cận khác về kiến thức khi cho rằng, để đạt được kiến thức mới phải đi từ thông tin riêng để đến kết luận chung. Suy luận này được gọi là suy luận qui nạp (Rossi, 1978). Nghiên cứu quy nạp đưa ra một kết luận phỏng đoán dựa trên suy luận từ quy luật lặp đi lặp lại và không đổi quan sát được đối với một số sự việc và rút ra sự tồn tại của một sự việc khác không được chứng minh nhưng lại có liên quan thường xuyên đến các sự việc đã được quan sát trước đó (Morfaux, 1980).
Nói cách khác, đây là sự tổng quát dựa trên lý luận đi từ cái cụ thể đến cái chung, từ sự vật rút ra quy luật, từ hậu quả suy ra nguyên nhân và từ kết quả rút ra nguyên tắc. Như vậy, nghiên cứu quy nạp là xem xét mối liên hệ dựa trên một số ví dụ cụ thể, nhà nghiên cứu khẳng định rằng mối liên hệ là đúng cho tất cả các trường hợp tiếp theo. Nghiên cứu quy nạp cho phép chúng ta dùng những tiền đề riêng, là những kiến thức đã được chấp nhận, như là phương tiện để đạt được kiến thức mới.