Chương 1 NHUNG VAN DE CHUNG 1. ĐÓI TƯỢNG, CHỨC NĂNG VÀ NHIỆM VỤ 1. Nhân học là gì? Đối tượng nghiên cứu của nhân học Thuật ngữ nhân học, tiếng Anh là Anthropology, tiếng Pháp là Anthropologie, đều bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp: Anthropos nghĩa là con người và Logos nghĩa là Ùÿ luận, khải quát, học thuyết. Nhân học, vì vậy theo duy danh định nghĩa là khoa học nghiên cửu vẻ con người'.
Nhưng con người ở đây bao hàm cả về con người sinh học - chủng tộc, cả con người xã hội, cả về nguồn gốc con người, cả về con người lịch sử xã hội loài người trong quá khứ và hién nay’. Như vậy, nhân học là một ngành khoa học xã hội và nhân văn, nghiên cứu tông thê về bản chất con người, bao gồm con người sinh học (mặt tự nhiên của con người) và con người văn hóa (mặt xã hội của con người) trong cả tiến trình lịch sử của xã hội loài người. Nói cách khác, nhân học là: “Khoa học về con người - nghiên cứu về bản chất con người, xã hội loài người và lịch sử loài người”: là “ngành khoa học nghiên cứu tổng hợp về bản chất của con người trên các phương điện ! Ở Việt Nam, một số tài liệu còn đồng nhất nhân học với tên gọi nhân loại học, hay nhân chủng học. Thực ra, nhân chủng học là một ngành học nghiên cứu về các chủng tộc trên thế giới - một lĩnh vực trong nhân học.
? Trong lúc đó, dân tộc học được hiểu là sự kết hợp của hai khái niệm, bắt nguồn từ hai thuật ngữ: Tiếng Anh là Ethnography và Ethnology, tiếng Pháp Ethnographie và Ethnologie, cũng đều bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp, Ethnos là tộc người/dân tộc và graphie là mô tả, logos là lý luận, khái quát; nó được hiểu là một ngành thuộc khoa học Lịch sử. Như vậy, nếu theo từ nguyên, dân tộc học là khoa học miéu tả và lý luận/khái quát các tộc người, trong tiến trình lịch sử từ nguyên thủy cho đến nay. Thực ra, dân tộc học mô tả và lý huận không tách rời nhau. Chúng ta cũng không thé đồng tình với quan điểm cho rằng, Ethnographie (miêu tả) chỉ là giai đoạn khởi đầu của quả trình nghiên cứu con người, đến Ethnologie (lý luận) là giai đoạn thứ hai/nhận định khái quát về con người và Anthropologie là giai đoạn thứ ba là nghiên cứu bản chất con người, xã hội con người một cách toàn diện, như Claude Levi Strauss đã từng đề xướng (theo Phan Hữu Dật, 2015, tr.
> Vii Minh Chi, 2004, tr. sinh học, xã hội, văn hóa của các nhóm người, các cộng dong dan toc khác nhau, cả về quá khứ của con người cho tới hiện nay.” là “ngành học về bản chất con người. xã hội con người, và quá khứ con người. Đây là một ngành học có mục đích miêu tả thế nào là con người theo một nghĩa rộng nhất có thể có được””.
Tóm lại, nhân học là một ngành khoa học thuộc khối ngành xã hội nhân văn, nghiên cứu tổng thể về bản chất của con người trên tất cả các lĩnh vực, từ con người sinh học đến con người xã hội, văn hóa, cả về quá khứ của con người cho tới hiện nay”. Đúng như Claude - Strauss, nhà nhân học tiên phong của thế kỷ XX, đã nói: Nhán học lấy con người làm mục đích nghiên cứu của nó, nhưng không giống như các khoa học khác về con người, nó cố gắng hiểu đối tượng của nó qua các biểu hiện ẩa dạng nhất. Nhân học cho thấy con người có thể khác biệt nhau như thế nào, nhưng nó cũng tìm ra những điểm chung giữa tắt cả con người và như Tim Ingold định nghĩa: “Nhân học là triết lý về con người", Như vậy, khách thể nghiên cứu của nhân học là con người với phạm vi rộng lớn toàn nhân loại, với các lĩnh vực rộng lớn cả nhân học tự nhiên/ nhân chủng học và nhân học văn hóa, xã hội, với quá trình lịch sử rộng lớn cả nhân học lịch sử/quá khứ xã hội người và nhân học hiện dai®. 6 Trong khi đó, dân tộc học được xác định là một ngành của khoa học lịch sử, chuyên nghiên cứu các dân tộc, từ nguồn gốc các dân tộc, cấu tạo thành phan các dân tộc, sự phân bô của các dân tộc, đến văn hóa vật chất, văn hóa xã hội và văn hóa tỉnh than của các dân tộc, cũng như mối quan hệ qua lại về văn hóa - lịch sử giữa các dân tộc (Theo Phan Hữu Dật, 1973, tr.
7 Dan theo DHQGTPHCM, 2006, tr. ® Trong sy so sanh vdi dan téc hoc, cé y kién cho di tugng nghién ctr của nhân học rộng lớn hơn, vì dân tộc học đặt con người trong phạm vi từng tộc người, từng dân tộc, nhân học đặt con người trong phạm vi toàn nhân loại; về thời gian, dân tộc học hướng về truyền thống, nhân học nghiên cứu cả truyền thống và hiện đại. Tuy nhiên cũng có ý kiến phản đối quan điểm trên: Dân tộc học cũng nghiên cứu các dân tộc trên thế giới, dân tộc học cũng nghiên cứu những vấn đề hiện đại. Thật ra, mọi sự so sánh đều mang tính tương đối, nhưng rõ ràng, nhân học tiếp cận những vấn đề nghiên cứu thiên về quốc tế và hiện đại hơn, dân tộc học thiên về tộc người, dân tộc và truyền thống hơn.
2 Tuy nhiên, do tính chất rộng lớn như vậy, nên về đối tượng nghiên cứu cụ thê và các lĩnh vực nghiên cứu của nhân học còn phức tạp và chưa có sự thống nhất”. Có ý kiến cho rằng, trong nhân học có hai lĩnh vực cơ bản: nhân học hình thể và nhân học văn hóa. Trong nhân học văn hóa lại chia thành ba chuyên ngành: Khảo cô học, nhân học ngôn ngữ và nhân học văn hóa - xã hội. Cũng theo quan điểm này, vào những năm gần đây, còn có thêm chuyên ngành nhân học ứng dụng'°.
Ý kiến khác lại cho rằng, “Do tính da dang về nội dụng học thuật, nhân học khó được xếp vừa vặn vào trong bảng phân loại chuẩn các ngành học thuật. Ngành học này thường được xếp vào ngành khoa học xã hội, nhưng nó cũng vươn tới các khoa học tự nhiên và các ngành nhân văn nữa''", Theo đó, nhân học bao gồm năm chuyên ngành lớn: Nhân học hình thể, nhân học văn hóa, nhân học ngôn ngữ, khảo cổ học và nhân học ứng dụng.ˆ Có ý kiến cho rang, trường phải Anh nhân học là một ngành độc lập và gọi là nhân học xã hội (social anthropology), còn trường phái Mỹ thiên về nhan hoc van héa (cultural anthropology) với quan niệm nhân học hình thành từ bốn lĩnh vực là nhân học tự nhiên, nhân học văn hóa, khảo cổ học và nhân học ngôn ngữ. Và “7? nửa sau thể ky XX, ngay trong cuộc chiến tranh thế giới thứ hai, nhân học ứng dụng (apphied anthropology) đã ra đời và phát triển mạnh như một phần quan trọng của nhân học nhằm góp phân giải quyết những vẫn đề liên quan đến con người theo yêu câu của thời đại, nhát là các chính sách đổi với con ngưò p3, Mặc dù, có những ý kiến chưa thống nhất về các chuyên ngành của nhân học, nhưng quan điểm khá phổ quát hiện nay là nhân học bao gồm năm chuyên ngành: nhân học hình thể, nhân học văn hóa, nhân học ngôn ngữ, khảo cổ học và nhân học ứng dụng. Trong đó, nhân học văn hóa ở nước ta được gọi là nhân học văn hóa - xã hội và rất gần nếu không muốn 9 Trong khi đó, dân tộc học có đổi tượng nghiên cứu vả lĩnh vực nghiên cứu được xác định khá cụ thể và thống nhất là con người trong phạm vi từng tộc người/dân tộc cụ thé trên toàn thể giới.
'3 Vũ Minh Chỉ, 2004, tr. nói là đồng nhất với dân tộc học; “Xw hướng chung hiện nay là người ta kết hợp cả nhán học văn hóa và xã hội gọi chung là nhân học văn hóa - xã hội. Trong nhiều trường hợp người ta còn gọi là dân tộc học. Theo truyền thông các nước Bắc Mỹ và các nước nói tiếng Anh gọi là nhân học văn hóa - xã hội, trong khi đó ở trường phái Pháp, Nga và các nước chịu ảnh hưởng (trong đó có Việt Nam) gọi là Dân tộc học '“".
Nhân học hình thê/ Nhân học khảo cô Nhân chủng học Nhân học ngôn ngữ NHÂN HỌC/ Nhân học văn hóa NHAN LOẠI HỌC Nhân học ứng dụng Sơ đồ 1. Các chuyên ngành của Nhân học 1. Nhân học hình thể (physical anthropology, anthropologie physique) Nhân học hình thể/nhân chủng học/ chủng tộc học là một chuyên ngành ra đời đầu tiên của nhân học. Nó là một lĩnh vực khoa học chuyên tìm hiểu về nguồn gốc, quá trình hình thành con người và về đặc điểm sinh học hình thể.
Hay nói cách khác, “Nhân học hình thể tìm kiếm câu trả lời cho hai dạng câu hỏi riêng biệt. Dạng đâu tiên gôm những câu hỏi về sự xuất hiện con người và sự tiễn hóa sau này để tìm hiểu nguồn gốc và quá trình hình thành con người. Phân ngành của nhân học hình thể nghiên cứu về vấn đề này gọi là cổ nhân học (Human paleontology hay paleanthropology). Dạng câu hỏi thứ hai trả lời về vấn đề như thế nào và tại sao các cự dán đương đại khác nhau về mặt sinh học (tập trung đề cập đến sự đa dạng của con người human variation)”, 4 DHOGTPHCM, 2008, tr.
Thuộc chuyên ngành này là những nhà Linh trưởng học chuyên nghiên cứu các động vật có họ hàng gần gũi với con người và các nhà Cổ nhân học chuyên nghiên cứu các hóa thạch của con người - tổ tiên xa xưa nhất của con người. Họ tìm tòi dưới mặt đất để kiếm tìm các bộ xương hóa thạch và so sánh với người hiện đại để làm sáng tỏ nguồn gốc của con người, cũng như “sảng tỏ nguyên nhân của sự tương đồng và dị biệt giữa con người với các sinh thể khác. công việc này chỉ là một phân trong sự nghiên cứu toàn diện về bản chất con người, xã hội con người và quá khứ con người`.ló Nhưng nhiệm vụ quan trọng nhất của Nhân học hình thể là nghiên cứu sự đa dạng của con người, sự khác nhau về đặc điểm sinh học hình thể, về hình đáng cơ thể, màu da, tóc, mắt. Loại Nhân học hình thể này được gọi là Nhân chủng học/ hay Chủng tộc học.
Ngành học này ra đời khá sớm ở châu Âu; nó lấy đối tượng nghiên cứu là các chủng tộc trên thế giới. Các nhà nhân chủng học bằng kỹ thuật đo đạc đặc điểm các one đồng cư dân khác nhau, bao gồm hình dáng, màu da, màu tóc, màu .