CHƯƠNG I LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN TRANG PHỤC VIỆT NAM Mã chương: MHMTT13-01 Giới thiệu: Mỗi dân tộc đều có cách ăn mặc riêng, vì vậy, trang phục trở thành biểu tượng của văn hóa dân tộc. Việt Nam bao gồm nhiều dân tộc, mỗi dân tộc mang đậm nét một bản sắc văn hóa độc đáo. Thông qua cái nhìn về lịch sử phát triển trang phục Việt Nam, ta thấy trang phục người Việt, từ dạng kiểu đơn sơ, giản dị, đẹp như tâm hồn người Việt cổ tiếp tục phát triển, hài hòa với môi trường khắc nghiệt của thiên nhiên nhiệt đới, khỏe khoắn với bao cuộc chiến tranh chống ngoại xâm liên miên. Trang phục người Việt là một trong những gì thân thiết nhất đối với con người Việt Nam.
Mục tiêu: Trình bày khái quát về nguồn gốc, chức năng của trang phục; Hiểu về sự phát triển của trang phục Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử; Phân tích được các yếu tố ảnh hưởng tới sự phát triển của thời trang và mốt; Rèn luyện tính cẩn thận, tỉ mỉ, tác phong công nghiệp. Nội dung chính: 1. Khái quát về trang phục Mục tiêu: Trình bày khái quát về nguồn gốc, chức năng của trang phục; Phân loại được trang phục. Nguồn gốc của trang phục 1.
Khái niệm về trang phục Trang phục bao gồm tất cả những gì con người mang khoác trên cơ thể, kể cả đồ đội trên đầu, đồ đi dưới chân, đồ đắp trên mặt và những gì được sử dụng kèm theo quần áo. Về đại thể trang phục gồm có: - Quần áo; - Nón, mũ, khăn; - Giày, dép, guốc; - Găng, tất; - Thắt lưnng, túi sách, ví tay… - Đồ trang sức; - Mỹ phẩm. 9 Trong số các trang phục, quần áo là quan trọng nhất vì nó chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tủ trang phục của mỗi người. Nguồn gốc của trang phục Muôn loài động vật, chỉ trừ con người, được thiên nhiên cho một thứ gì đó để che thân: lông mao, lông vũ, lông thú, tóc, vảy, sừng, hoặc một lớp da dày.
Con người chảng có gì trừ một lớp da mỏng và trong hàng ngàn năm họ đã phải lang thang trên Trái Đất mà không có thứ khác che thân nào khác. Xuất phát từ nhu cầu bảo vệ cơ thể, chống lại các tác động của thiên nhiên, người xưa tìm kiếm những tấm phủ, những mảnh da, những mảnh vỏ cây để che cơ thể. Ngay từ thời kì đồ đá, người xưa đã biết đập bẹt và nạo những tấm da thú để che thân như là quần áo. Những kiểu “trang phục” ban đầu là các mảnh da thú, các tấm lá che vai, che ngực… sau này phát triển thành những kiểu áo… sau này trở thành các kiểu váy, quần.
Vật liệu ở vùng giàu thực vật là vỏ, lá, sợi cây, ở vùng giàu động vật là lôn chim, da thú, da cá. Người ta phát hiện rằng những người thượng cổ khoác lông thú. Loại quần áo sớm nhất sinh ra do nhu cầu bảo vệ con người chống lại cái lạnh ghê gớm. Ban đầu động lực phát triển quần áo là điều kiện tự nhiên.
Bằng chứng là quần áo phát trển nhanh ở các vùng khí hậu khắc nghiệt (thường là xứ lạnh) và phát triển chậm ở các vùng ôn hoà. Về sau khi kĩ thuật, văn minh phát triển đến trình độ nhất định, nhu cầu vật chất đa được đáp ứng, con ngưòi sáng tạo ra nhiều chủng loại quần áo nhằm thoả mãn nhu cầu khác nhau của con người. Theo quan điểm kĩ thuật có 3 cách tạo dáng quần áo căn bản: * Tạo dáng quần áo bằng cách quấn, phủ Tắm da gấu chưa thuộc quấn quanh người là dạng quần áo đơn giản nhất. Sau đó những tấm da này được khâu và liên kết vói nhau.
VD: bộ Sari của người Ấn Độ. * Tạo dáng quần áo bằng cách xếp nếp Lông cừu đã được phát hiện và được xén, quay thành sợi. Vải dệt xuất hiện. Người dân Ai Cập, La Mã, Hi Lạp đã xếp nếp và gập vải để tạo thành quần áo.
VD: bộ Chiton của người Hi Lạp, bộ Toga của người đàn ông La Mã… * Tạo dáng quần áo bằng cách cắt, may Đây là cách tạo dáng quần áo phổ biến nhất trên thế giới. Hầu hết các chủng loại quần áo được chế tạo theo cách cắt và may. Từ vải cắt thành các chi tiết với các hình dáng khác nhau, rồi may can với nhau sao cho khi may ráp xong có sản phẩm có kết cấu và kích thước phù hợp với những đường cong cơ thể. Chức năng của quần áo Chúng ta nhận thấy rằng chúng ta mặc quần áo với nhiều lí do khác nhau.
Phân tích nhu cầu của con người, nhà tâm lý học Abraham Maslow sắp xếp nhu cầu theo mức độ từ thấp tới cao theo “ tháp nhu cầu” Tự thể hiện bản thân (hiện thực hoá các tiềm năng của mình ) Được kính trọng ( Tự trọng. Được chấp nhận, ủng hộ. Được kính trọng ) Giao tiếp xã hội ( Yêu và dược yêu, được quý mến, được chia sẻ tình cảm ) An toàn ( Được bảo vệ, an toàn, có sức khoẻ ) Tồn tại ( Lương thực, nước, ngủ, quần áo, đi lại ) Sơ đồ: Tháp nhu cầu của Abraham Maslow Nhu cầu để tồn tại: lương thực, nước, ngủ và quần áo phải được đáp ứng trước hết, đó là nhu cầu vật chất. Ở cấp độ 2: Quần áo giúp chúng ta bảo vệ an toàn như: Trong điều kiện khớ hậu bất lợi, ta cần quần áo để che mưa che nắng.
Khi xuất hiện các nguy cơ từ môi trường: trang phục lính cứu hoả, áo chống đạn… Tránh thương tích: mũ bảo hiểm, kính… Khi nhu cầu ở cấp độ 1, 2 được thoả mãn thì chuyển tới cấp độ cao hơn: nhu cầu giao tiếp trong quá trình giao tiếp xã hội. Trang phục phù hợp lứa tuổi, giới tính Trang phục phù hợp hoàn cảnh giao tiếp: đám cưới, hội nghị, tôn giáo. Trang phục là kênh truyền tải thông tin về người mặc. Trong giao tiếp nảy sinh nhu cầu được đánh giá, được tôn trọng: mọi người đều cú quyền tự do lựa chọn quần áo nhưng trong nhiều trường hợp, con người đều muốn mặc để được chấp nhận, được đánh giá và tôn trọng vì: Trang phục giúp người mặc khẳng định mình thuộc cộng đồng nào trong xã hội.
Trang phục thể hiện địa vị xã hội 11 Trang phục chính là phương tiện hữu hiệu diễn đạt thân phận của mỗi người trong xã hội cùng phong tục tập quán, tôn giáo, điều kiện tự nhiên, môi trường… Ở thang bậc nhu cầu cao nhất, cấp độ 5, người ta mặc với mục đích thể hiện bản thân mình Trang phục tô điểm, làm đẹp thêm cho người mặc Trang phục thể hiện khiếu thẩm mỹ riêng của người mặc Trang phục thể hiện tiềm năng kinh tế, cá tính, nhân cách, năng lực, trình độ văn hóa Trang phục biểu lộ sự đồng tình hay phản bác tư tưởng, một lối sống nào đó trong xó hội Những phân tích trên cho thấy trang phục cú 3 chức năng cơ bản: 1. Bảo vệ và giữ ấm cơ thể 2. Thể hiện cá tính trong giao tiếp xó hội 3. Được trở nên hấp dẫn hơn Do đó quần áo đáp ứng cả nhu cầu vật chất và tinh thần của con người.
Phân loại trang phục 1. Phân loại quần áo theo giới tính, lứa tuổi - Quần áo nam - Quần áo nữ - Quần áo trẻ em Quần áo nam, nữ lại đươc chia theo lứa tuổi : thanh niên, trung niên, cao tuổi. Quần áo trẻ em được chia theo đối tượng : tuổi mẫu giáo, nhà trẻ, tiểu học, trung học, phổ thông Chia quần áo thành nhiều loại để phù hợp với giới tính, lứa tuổi, đặc điểm tâm sinh lí khác nhau 1. Phân loại quần áo theo mùa khí hậu - Quần áo mùa xuân; - Quần áo mùa thu; - Quần áo xuân hè; - Quần áo thu dông; - Quần áo mùa hè; - Quần áo mùa dông.
- Quần áo hè thu; Việc chọn quần áo theo mùa khí hậu vừa tạo cảm giác thoải mái vừa giữ gìn, bảo vệ sức khoẻ. Phân loại quần áo theo chức năng sử dụng - Quần áo mặc lót : là những sản phẩm mặc sát người, thường được làm từ vải mềm mại, tỉ lệ cotton cao, có độ chun, co dãn cao, vừa ôm khít cơ thể, vừa bảo đảm vệ sinh. 12 - Quần áo mặc thường : sơmi, quần âu là những thứ mặc thường ngày chiếm tỉ trọng lớn trong toàn bộ trang phục của mỗi người. - Quần áo khoác ngoài: áo veston, áo budông, áo jacket, áo măng tô.chúng được sử dụng phần lớn đê chống rét nhưng không ít những trường hợp ngay cả những ngày hè nóng bức vẫn được sử dụng để tăng vẻ trang trọng , lịch sự.Tuy nhiên chúng phải được may từ loại vải thích hợp với mùa khí hậu.
Phân loại theo ý nghĩa xã hội a) Quần áo mặc thường ngày : bao gồm phần lớn tủ quần áo của mỗi người, dùng thường xuyên trong sinh hoạt, lao động sản xuất hàng ngày. Kiểu cách, vật liệu, màu sắc trang phục phụ thuộc chủ yếu vào điều kiện sống, đặc điểm nghề nghiệp, thu nhập mỗi người. b) Quần áo lễ hội : có nhiều màu sắc, được may từ những chất liệu đắt tiền hơn, kiểu dáng cầu kì hơn, thường gồm theo những phụ kiện đắt tiền, quý hiếm. c) Quần áo lao động sản xuất : là các bộ bảo hộ lao động, đồng phục nghề, thiết kế phù hợp với điều kiện việc làm, đặc điểm nghề.
d) Quần áo thể dục thể thao, picnic : tuỳ thuộc vào từng môn thể thao, thường thiết kế ôm gọn cơ thể, để người mặc di chuyển, vận động thoải mái. e) Quần áo biểu diễn nghệ thuật : là những bộ quần áo dành cho nghệ sĩ biểu diễn, thiết kế phù hợp với loại hình nghệ thuật: cải lương, chèo, xiếc, múa… 2. Lịch sử phát triển trang phục Việt Nam Mục tiêu: Hiểu về sự phát triển của trang phục Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử; Biết được một số các trang phục của các dân tộc Việt Nam. Trang phục thời Hùng Vương Cách đây khoảng 4.000 năm vào thời đại đồng thau phát triển, nước Việt Nam thời đó gọi là nước Văn Lang.
Người dân ở đây đã sinh sống bằng săn bắn, hái lượm và trồng trọt. Họ không dùng vỏ cây làm áo nữa mà đã biết trồng gai, đay, nuôi tằm, ươm tơ, dệt vải. Vào thời kỳ này đồ đồng rất phong phú. Trống đồng và nhiều tượng phù điêu bằng đồng có khắc họa những cảnh sinh hoạt thời đó với những hình người, với các loại trang phục khá rõ nét và được thể hiện bằng phong cách nghệ thuật biến hình, cách điệu cao.