MỞ ĐẦU KHÁI QUÁT VỀ lí LUẬN VĂN HỌC Mục tiêu: - Biết được nội dung, tính chất của môn lí luận 0uăn học, mối quan hệ cua no voi lich sw van hoc va phé binh van hoc. - Hiểu được uai trò, ý nghĩa của lí luận uăn học đối uới uiệc nghiên cứu va giang day van học. - Xác định được yêu cau va phương pháp học tập, nghiên cứu lí luận van hoc. NOI DUNG, TINH CHAT CUA BO MON Li LUAN VAN HOC 1.
Lí luận uăn học là m6t b6 phén cua khoa nghién citu van hoc Lí luận khoa học về văn học lấy các hiện tượng văn học như tác phẩm, thể loại, nhà văn, quá trình sáng tác, sự tiếp nhận, quá trình phát triển của văn học. làm đối tượng nghiên cứu. Mục đích của lí luận văn học là rút ra các khái niệm, các quy luật có tính phổ biến về văn học nhằm trả lời câu hỏi văn học là gì, tác phẩm cấu tạo như thế nào, thế nào là tác phẩm hay. từ đó giúp người đọc thưởng thức, nghiên cứu văn học một cách tự giác.
Tuy cùng nghiên cứu văn học nhưng lí luận văn học chỉ là một bộ phan cua Khoa nghiên cứu văn học, phân biệt với lịch sử văn học và phê bình văn học. Lịch su van hoc hay còn gọi là văn học sử là bộ phận nghiên cứu sự phát sinh, phát triển của các hiện tượng văn học, xem xét các sáng tác văn học trong trật tự thời gian, không gian, miêu tả tình hình văn học từng thời kì, tổng kết kinh nghiệm và quy luật của văn học dân tộc. 9 (Ví dụ: Văn học Việt Nam, Văn học Trung Quốc. Phê bình văn học là toàn bộ sự phân tích, nghiên cứu, đánh giá các nhà văn, tác phẩm và các hiện tượng văn học cụ thể (Ví dụ: nghiên cứu Truyện Kiều, đánh giá thơ văn Hồ Chí Minh.
Phê bình văn học chủ yếu có tác động trực tiếp đến dong chảy trước mắt của văn học, nên nó ưu tiên hơn dến tác phẩm đương đại và vấn đề đương đại của văn học. Lí luận văn học nghiên cứu văn học như một hoạt động sáng tạo tỉnh thần thẩm mĩ của con người, bao gồm các mặt hoạt động của các yếu tố, quan hệ tạo thành hoạt động đó. Nó nghiên cứu các hiện tượng văn học cụ thể để rút ra các khái niệm phổ biến về bản chất, tính chất, quy luật của văn học. Chính vì vậy, nội dung của lí luận văn học là các khái niệm, phạm trù về văn học.
Tuy khác nhau nhưng lí luận văn học, lịch sử văn học và phê bình văn học có mối liên hệ với nhau rất mật thiết. Lí luận văn học không thể thoát li văn học sử và phê bình văn học. Các sự kiện văn học và các kết luận được nêu ra của hai bộ phận này làm cơ sở và thúc dẩy lí luận văn học phát triển. Thiếu cơ sở văn học sử và phê bình văn học thì lí luận văn học rơi vào chung chung, trừu tượng.
Ngược lại các khái niệm lí luận văn học có vai trò chỉ đạo, định hướng giúp cho việc nhìn nhận văn học sử và phê bình văn học thêm sâu sắc, sáng tỏ, bởi cái đích cuối cùng của nghiên cứu, thưởng thức văn học là phải có được quan niệm rõ ràng về các hiện tượng văn học. Thiếu khái niệm lí luận thì việc phân tích, nhận thức văn học khó tránh khỏi trình độ cẩm tính, mơ hồ. Ví dụ đọc một bài thơ, một thiên truyện mà cảm thấy hay và thích thú, nhưng nếu muốn đi sâu tìm hiểu hay ở đâu, vì sao hay thì thiếu lí luận là không thể được. Chính vì vậy, lí luận văn học cần cho nghiên cứu văn học nói chung và cần cho người đọc nói riêng.
Noi dung của lí luận uăn học Lí luận văn học là lí luận khoa học về văn học, lấy văn học làm dối tượng nghiên cứu. Lí luận văn học có nhiệm vụ khái quát về bản chất, đặc trưng, cấu tạo, quy luật tôn tại và phát triển của văn học, giúp cho con người hiểu được mọi hiện tượng văn học từ tác phẩm, tác giả, thể loại, trào lưu, phong cách. Lí luận văn học, có nhiệm vụ cung cấp một hệ thống các khái niệm, phạm trù khoa học chặt chẽ với tư cách là những 10 có thể vận công cụ, để người đọc và các nhà phê bình, các nhà văn học sử dụng để nghiên cứu văn học một cách hữu hiệu. Đối tượng của lí luận văn học không phải là một vài tác phẩm, tác giả cụ thể, mà là toàn bộ văn học như là một lĩnh vực nghệ thuật, một hình thái ý thức xã hội.
Đó là một đối tượng rộng, vừa thống nhất, vừa đa dạng, lại luốn đổi thay trong lịch sử, do đó lí luận văn học không dé trả lời câu hỏi “Văn học là gì?” nếu không xem xét toàn diện. Lí luận văn học tất nhiên không thể không phân tích một số tác phẩm, tác giả cụ thể, nhưng nó nghiên cứu các hiện tượng đó như là những ví dụ. Nói cách khác, nghiên cứu tác phẩm, tác giả cụ thể, lí luận văn học không nghiên cứu như nhà phê bình văn học và lịch sử văn học nhằm đánh giá ý nghĩa, vị trí từng tác phẩm, tác giả đó, mà là nhằm xem xét một trào lưu văn học, cuộc vận động của văn học. Lí luận văn học vận dụng phương pháp luận triết học, từ tầm cao lí luận mà trình bày và phân tích tính chất, đặc điểm, quy luật của văn học, xây dựng nên các khái niệm, phạm trù.
Phạm vì của lí luận văn học ngày nay bao gồm các bộ phận sau: Mội là bản chất, đặc trưng của văn học, hai là cấu tạo của tác phẩm và thể loại, ba là quá trình sáng tác, bốn là tiến trình phát triển văn học, năm là sự tiếp nhận văn học. Năm bộ phận này bao quát hết các mặt quy luật của văn học. Một bộ lí luận văn học đây đủ phải bao gồm ngần ấy bộ phận. Mỗi bộ phận có những quy luật, phạm trù riêng.
Nhưng các bộ phận đều liên hệ mật thiết với nhau trong quá trình lịch sử. Theo nhà lí luận Mỹ là M.AbramsÌ thì có bốn yếu tế tạo thành đời sống văn học. Đó là tác phẩm, nhà văn, thế giới, người đọc được sắp xếp thành mô hình đưới đây: 1. Xem: Tấm gương va ngọn đèn.
Đại học Bắc Kinh. 11 Thế giới Tác phẩm Nhà văn Ñ Người đọc Từ bốn yếu tố cơ bản đó có thể sắp xếp thành mô hình vòng tròn phản ánh các mối liên hệ qua lại của chúng: Thế giới ⁄Z ` Người đọc Nhà văn Ñ Tác phẩm a Ngoài năm bộ phận trên lí luận văn học còn bao hàm lịch sử của lí luận văn học, bởi vì mỗi khái niệm, phạm trù lí luận văn học đều có lịch sử của nó. Không hiểu lịch sử lí luận văn học thì cũng không hiểu được lí luận văn học. Lịch sử phê bình văn học cũng có ý nghĩa rất quan trọng, bởi vì từ trong thực tiễn văn học các vấn để lí luận văn học luôn luôn dược đặt ra.Từ xưa đến nay các quan niệm, tiêu chuẩn và phương pháp luận phê bình văn học luôn đổi thay và phát triển, chúng tạo thành một lịch sử phê bình văn học rất phong phú.
Ở nhiều nước hiện nay, lịch sử lí luận văn học và lịch sử phê bình văn học đã trở thành những bộ môn khoa học độc lập, Nghiên cứu liên ngành đối với văn học, như xã hội học văn học, vận đụng các phương pháp xã hội học nghiên cứu môi trường xã hội của văn 12 cho người học, lấy đó làm phương tiện truyền bá văn học, gây hứng thú đọc. Tâm lí học văn học vận dụng các phương pháp tâm lí học để nghiên cứu hoạt động sáng tác, tiếp nhận. Ngôn ngữ học văn học vận dụng các phương pháp ngôn ngữ học nghiên cứu đặc trưng văn học trên phương diện ngôn ngữ. Ngoài ra các bộ môn như văn hoá học văn học, kí hiệu học văn học, giá trị học văn học, triết học văn học cũng là những lĩnh vực hấp dẫn và không thể thiếu.
Lí luận văn học cũng nghiên cứu toàn bộ các mối quan hệ rộng lớn giữa văn học, thời đại, lịch sử, chính trị, văn hoá, đân tộc, nhân loại cho nên nhân loại học văn học cũng đang là một hướng nghiên cứu đang được chú ý. Đó là phạm vi nghiên cứu rộng lớn và đặc thù mà Lí luận văn học đảm nhiệm. Tính chất của Lí luận uăn học Lí luận văn học là một bộ môn khoa học, là thành quả đúc kết, khái quát kinh nghiệm văn học của nhân loại. Thoạt đầu văn học xuất hiện trong thực tiễn đời sống con người, trên cơ sở đó dan dần xuất hiện những khái niệm Lí luận về văn học.
O Hy Lap cé đại trên cơ sở thần thoại, sử thi, tung ca, bi kịch và hài kịch Platon (TƠN 427-347) và Aristote (TCN 384-322) đã nêu ra các quan niệm về văn học đầu tiên. Ở Trung Hoa cổ đại, trên cơ sở dân ca linh thị, Khổng tử (TCN 551-479) đã nêu ra quan niệm về văn học đầu tiên. Văn học càng phát triển phong phú thì khái niệm lí luận về văn học càng sâu sắc. Chẳng hạn thi ea Trung Quốc có từ thời cổ đại, nhưng đến Thẩm Ước (441-513) người ta mới có lí luận về thanh luật.
Hoặc như văn học nghệ thuật có từ xưa, nhưng cho đến thế kỉ XVII ở phương Tây cũng như phương Đông khái niệm văn học vẫn mang nội hàm rất rộng, bao gồm cả các tác phẩm lịch sử, chính trị, triết học. Nhiều khái niệm về văn học phải đến thế kỉ XIX, XX mới hình thành đây đủ. Lí luận văn học là sản phẩm của lịch sử, nó không ngừng phong phú thêm, và đổi thay cho sâu sắc hơn. Là sự khái quát, đúc kết kinh nghiệm về văn học, lí luận văn học chịu sự chỉ phối của trình độ phát triển của văn học và trình độ nhận 13 thức của con người.
Chẳng hạn Aristote khi bàn đến bản chất của văn học chủ yếu chỉ nói đến bản chất “bắt chước” của nó, còn bàn đến thể loại thì hầu như chưa nói gì đến thể loại trữ tình. Ỏ phương Đông lí luận Nho giáo nói đến văn học chủ yếu đề cập đến chức năng giáo hoá và không đánh giá cao các tác phẩm hư cấu. do đó lí luận văn học hôm nay là sự tổng kết thành quả của một quá trình nhận thức lâu dài về văn học của nhân loại. Nhưng lí luận văn học không phải là số cộng giản đơn các kiến thức về văn học.