Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG 1. Một số thuật ngữ khái niệm cơ bản. Kí hiệu học và kí hiệu học văn học. Thế giới kí hiệu manh nha xuất hiện từ các trước tác của Aristotle, Plato và John Locke.
“Lý thuyết ký hiệu” được John Locke nhắc đến với khái niệm semiotika, nội dung hướng đến việc quan tâm đến bản chất của ký hiệu, tư duy hướng đến việc hiểu sự vật hoặc truyền đạt kiến thức về nó cho người khác. Tuy nhiên, thuật ngữ này chỉ được giới nghiên cứu thực sự quan tâm bởi đề xuất của Ferdinand de Saussure (1857 – 1913) trong lĩnh vực ngôn ngữ học khi xem xét mối quan hệ giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt. Trên trục cơ sở nhị phân, F. Saussure đề cập đến tính hai mặt của kí hiệu cùng với các phạm trù sóng đôi như cái biểu đạt và cái được biểu đạt, ngôn ngữ và lời nói, nội tại và ngoại tại, … Theo Saussure, tín hiệu học/kí hiệu học (sémiologie) hướng đến nghiên cứu đời sống của các tín hiệu trong sinh hoạt xã hội dựa vào quá trình khai thác các tín hiệu bởi một số quy luật nhất định.
Ông cho rằng kí hiệu không thể tồn tại bên ngoài ngôn ngữ, nghĩa là không có sự nảy sinh nghĩa bởi hiện thực khách quan tác động lên đối tượng. Khuynh hướng nghiên cứu của Saussure nhấn mạnh tính chỉnh thể của kí hiệu trong hệ thống ngôn ngữ trên bình diện kết học (syntactics). Bên cạnh mô hình song đôi của Saussure, mô hình tam vị của C. Morris phân tích kí hiệu là sự liên kết giữa 3 thành tố: kí hiệu (sign), đối tượng (object), sự diễn giải (interpretantions); trong đó kí hiệu (sign) được xem như là cái biểu đạt (signifier); đối tượng (object) là suy nghĩ tốt nhất về bất cứ cái gì được biểu đạt.
Khác với Saussure, hướng đi của Pierce thiên về bình diện nghĩa học (semantics); khai thác sự tác động qua lại giữa kí hiệu và thực thể ngoài kí hiệu. Có thể hình dung rằng cả Saussure và Pierce đều chọn kí hiệu làm đơn vị nhỏ nhất, đơn vị nền tảng của ngôn ngữ. Đây là hai con đường tiếp cận kí hiệu truyền thống được Yuri Lotman đề cập trong Kí hiệu học văn hoá. [29] Lấy thành tựu của Saussure và Pierce làm nền tảng; kí hiệu học về sau phát triển mạnh mẽ với nhiều trường phái, luận điểm khác nhau.
Mô hình phân tầng của Louis Hjelmslev 15 (trường phái Copenhagen) xem xét hai mặt của kí hiệu ở yếu tố biểu hiện (expression) và nội dung (content). Hjelmslev phân tích rằng mỗi kí hiệu có một chức năng giữa hình thức nội dung và hình thức biểu hiện, là cơ sở cho phân tích ngôn ngữ trên bình diện ngữ vị học (glossematics). Mỗi chức năng kí hiệu lại biểu hiện hai nghĩa: nghĩa của nội dung (content substance) là sự biểu hiện tâm lí và khái niệm của kí hiệu và nghĩa của biểu hiện (expression substance) là nội dung vật chất, nơi mà một kí hiệu được biểu hiện. Trường phái Prague với dấu ấn của R.
Jacobson đã phát triển ý tưởng của Saussure, không chỉ đi sâu ở khía cạnh kết học, vấn đề biểu nghĩa mà còn mở rộng kí hiệu ở khía cạnh dụng học (pragmatics). Công trình của các trường phái kể trên không chỉ là tiền đề mà còn tác động mạnh mẽ cho sự hình thành của kí hiệu học cấu trúc. Nghiên cứu kí hiệu học trong dòng chảy hậu cấu trúc luận về sau đón nhận nhiều cái tên như R. Barthes với tuyên bố “cái chết của tác giả”, xé lẻ chỉnh thể cấu trúc văn bản và quan tâm đến khả năng diễn giải của mã nghệ thuật; J.
Derrida với quan điểm không gian kí hiệu là mô hình kí ức văn hoá nối dài, xếp chồng của chuỗi mã cũ và mới; J.Griemas với lý thuyết diễn ngôn của thơ hay J. Kristeva với đề xuất khái niệm liên văn bản, khai thác kí hiệu một chỉnh thể văn bản cố định trở thành liên kí hiệu ở các tầng kết nối cao hơn. Ủng hộ mô hình cấu trúc tam vị của Pierce là Roland Barthes khi ông chỉ ra tiềm năng của kí hiệu học trong việc phân tích và giải nghĩa các biểu tượng huyền thoại. Quan điểm của Barthes được Thuỵ Khuê phân tích cụ thể trong chương 17 của Phê bình văn học thế kỉ XX [27].
Barthes nhấn mạnh “huyền thoại như một hệ thống kí hiệu” được tạo ra từ các chuỗi kí hiệu trước đó. Ông thực hiện một loạt các công trình nghiên cứu về kí hiệu học như Các thành tố của kí hiệu học (1964); Tuyển tập các công trình kí hiệu học, thi pháp học (1989); “Cơ sở của kí hiệu học” (Chủ nghĩa cấu trúc và văn hóa, 2002). Trong công trình Mã văn hoá trong tác phẩm văn học - những vấn đề lý thuyết và giảng dạy [10, tr. Lê Nguyên Cẩn đề cập đến tiểu luận Các thành tố của kí hiệu học (Élesments de la semiologie).
Ông chỉ ra rằng Barthes tin vào sự nở rộ của kí hiệu học bởi tầm quan trọng của hệ thống kí hiệu trong đời sống, thế nhưng trước nhất cần xác định rõ nội hàm lí thuyết lẫn phương pháp tiếp cận đối với kí hiệu vượt lên trên hiểu biết của ngôn ngữ học, chạm đến yếu tố phi ngôn ngữ. Theo Barthes, mọi lĩnh vực liên quan đến nền tảng diễn giải, kí 16 thác đều tận dụng được khả năng của kí hiệu, không chỉ riêng gì ở mặt ngôn ngữ. Đây cũng chính là hướng khai thác của Umberto Eco trên cơ chế chuyển mã của Barthes. Xuất phát từ học thuyết của Pierce, Eco cho rằng tín hiệu/kí hiệu luôn đi liền với sự diễn giải trên cơ sở tôn trọng mã văn bản sẵn có.
Sau thành công của các lí thuyết kí hiệu học ở bình diện ngôn ngữ học; dưới sự tác động mạnh mẽ của chủ nghĩa cấu trúc, trường phái kí hiệu học Tartu-Moskva do Yuri Lotman khởi xướng đã mở rộng phạm vi kí hiệu học bao trùm lên các lĩnh vực nghệ thuật khác bao gồm cả văn hoá và xã hội. Về cơ bản, Yuri Lotman cho rằng kí hiệu được tạo lập thành một hệ thống tầng bậc, tổ chức kí hiệu thấp được qui định bởi tổ chức kí hiệu cao hơn. Ông viết: “Kí hiệu học văn hoá là bộ môn khoa học có nhiệm vụ khảo sát sự tương tác giữa các hệ thống kí hiệu có cấu trúc khác nhau, khám phá sự vênh lệch, không đồng bộ bên trong của không gian kí hiệu, nghiên cứu sự cần thiết phải hiểu biết nhiều ngôn ngữ văn hoá và kí hiệu học” [29, tr. Với quan điểm phân biệt chỉnh thể ngôn ngữ trong mối quan hệ tách rời với chỉnh thể văn bản (text), Lotman cho rằng kí hiệu không đơn thuần là sự luân chuyển một chiều giữa cái được biểu đạt và cái biểu đạt, giữa người phát mã và người nhận mã mà là một mối quan hệ phức tạp gấp nhiều lần.
Khi mối quan hệ giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt, giữa người tạo mã và người giải mã càng kết nối phức tạp thì mã kí hiệu hay biểu tượng sẽ phát huy quyền lực của nó. Quan điểm của Lotman về sau được kết hợp với nhiều lí thuyết khác nhau trong đó có lí thuyết đối thoại của Bakhtin, lí thuyết diễn ngôn của Foucault hình thành nên các hướng đi mới cho nghiên cứu kí hiệu học văn hoá. Lã Nguyên trong Một số vấn đề về kí hiệu học văn hóa chia các quan điểm về kí hiệu học trên thế giới thành 3 nhóm: Nhóm thứ nhất bao gồm các định nghĩa căn bản và phổ biến nhất về kí hiệu học: Kí hiệu học là khoa học về các kí hiệu và/hoặc về các hệ thống kí hiệu (dựa vào đối tượng). Nhóm thứ hai bao gồm các định nghĩa dựa trên khía cạnh phương pháp: Kí hiệu học là khoa học lấy các phương pháp ngôn ngữ học phân tích các đối tượng không phải là ngôn ngữ tự nhiên.
17 Nhóm thứ ba là các định nghĩa gần với quan điểm của Yuri Lotman: Kí hiệu học là khoa học về các hệ thống giao tiếp và các kí hiệu được sử dụng trong quá trình thông tin. Trong Từ điển các khái niệm ngôn ngữ học, Nguyễn Thiện Giáp định nghĩa tín hiệu học (semiotics, semiology) là “ngành khoa học nghiên cứu về tín hiệu và cách thức sử dụng tín hiệu” [17, tr. Cũng trong phần khái niệm này, ông cho rằng tín hiệu học giải quyết toàn bộ các mã của đời sống và ngôn ngữ chỉ là một bộ phận của hệ thống tín hiệu, có chăng là một điển mẫu tín hiệu mà thôi. Có thể thấy rằng, ngày nay kí hiệu học/tín hiệu học không dừng lại ở biên giới của ngôn ngữ, văn học mà lan rộng đến toàn bộ các lĩnh vực của đời sống như quan điểm của Yuri Lotman đề cập trước đó.
Ủng hộ quan điểm của Lotman còn có nhà nghiên cứu Trịnh Bá Đĩnh khi tác giả khẳng định kí hiệu học trước nhất là kí hiệu văn hoá và nhấn mạnh văn học là một hình thái ý thức văn hoá – xã hội với khả năng vay mượn toàn bộ hệ thống kí hiệu của phông nền văn hoá. Trong Từ điển thuật ngữ Văn học (Lê Bá Hán – Trần Đình Sử – Nguyễn Khắc Phi đồng chủ biên), kí hiệu học được định nghĩa là “khoa học về các kí hiệu và hệ thống kí hiệu (semiology) nghiên cứu mọi phương thức giao tiếp (truyền thông tin) bằng các biểu trưng. Kí hiệu học khảo sát sự gián tiếp của động vật, của con người và các quan hệ trong hệ thống “người – máy”. Những khách thể nào có thể khảo sát được như những ngôn ngữ đều là đối tượng của kí hiệu học” [18, tr.
Bên cạnh đó, các tác giả cũng nhấn mạnh sự tác động giữa văn bản mang kí hiệu với phông nền văn hoá bên ngoài văn bản. Kí hiệu học văn học ra đời dựa trên mối quan hệ mật thiết của văn chương với ngôn ngữ. Ngôn ngữ với vai trò là công cụ, phương tiện kí thác nội dung tư tưởng của người nghệ sĩ thành các mã và quá trình tiếp nhận của bạn đọc chính là con đường giải mã, tri nhận kí hiệu/chuỗi kí hiệu ấy. Dựa trên quan điểm phương tiện đặc thù của văn học là ngôn ngữ nghệ thuật thì hệ thống này xuất phát từ ngôn ngữ tự nhiên và được tái mã hoá vào văn bản.
Như vậy, nếu như kí hiệu học cơ bản giải quyết các nội dung của ngôn ngữ học thì kí hiệu học văn học lại giải quyết nội dung của văn học trên bình diện ngôn ngữ và biểu tượng.