Luận Văn: Kí Hiệu Học Trong Tiểu Thuyết Nguyễn Bình Phương

Phân tích tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương qua lăng kính kí hiệu học văn học. Nghiên cứu Vào Cõi và Thoạt Kỳ Thủy, khám phá ý nghĩa ẩn sâu.

Chuyên ngành

Lí luận Văn học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2020

101
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. Lí do chọn đề tài

2. Lịch sử vấn đề

2.1. Những công trình dịch, giới thiệu về lí thuyết kí hiệu học

2.2. Những công trình vận dụng lý thuyết kí hiệu học trong nghiên cứu văn học

2.3. Những công trình, bài viết nghiên cứu về tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương với lí thuyết kí hiệu học văn học

3. Mục đích nghiên cứu

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1. Đối tượng nghiên cứu

4.2. Phạm vi nghiên cứu

5. Giá trị khoa học và thực tiễn của đề tài

6. Phương pháp nghiên cứu

7. Bố cục của khóa luận

1. CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG

1.1. Một số thuật ngữ khái niệm cơ bản. Kí hiệu học và kí hiệu học văn học

1.2. Kí hiệu và mã thẩm mĩ

1.3. Kí hiệu và biểu tượng nghệ thuật

1.4. Mã thể loại tiểu thuyết và cơ chế tái cấu trúc kí hiệu hoá trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương

1.4.1. Mã thể loại tiểu thuyết

1.4.2. Cơ chế tái cấu trúc kí hiệu hoá trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương

2. CHƯƠNG 2: TIỂU THUYẾT THOẠT KỲ THỦY, VÀO CÕI CỦA NGUYỄN BÌNH PHƯƠNG NHÌN TỪ MÃ NHÂN VẬT VÀ MÃ KHÔNG GIAN, THỜI GIAN NGHỆ THUẬT

2.1. Mã nhân vật trong tiểu thuyết Thoạt kỳ thủy và Vào cõi

2.1.1. Nhân vật “biến dạng”

2.1.2. Nhân vật chấn thương

2.1.3. Nhân vật truy tìm bản thể

2.2. Mã không gian, thời gian nghệ thuật trong tiểu thuyết Thoạt kỳ thủy và Vào cõi

2.2.1. Không gian của cõi vô thức, tâm linh

2.2.2. Thời gian của giấc mơ

2.2.3. Không - thời gian đồng hiện

3. CHƯƠNG 3: TIỂU THUYẾT THOẠT KỲ THỦY, VÀO CÕI CỦA NGUYỄN BÌNH PHƯƠNG NHÌN TỪ MÃ KẾT CẤU, MÃ NGÔN NGỮ VÀ MÃ BIỂU TƯỢNG

3.1. Mã kết cấu trong tiểu thuyết Thoạt kỳ thủy và Vào cõi

3.1.1. Kết cấu liên văn bản

3.1.2. Kết cấu phân mảnh

3.1.3. Kết cấu đồng hiện

3.2. Mã ngôn ngữ, mã biểu tượng trong tiểu thuyết Thoạt kỳ thủy và Vào cõi

3.2.1. Ngôn ngữ người kể chuyện

3.2.2. Ngôn ngữ nhân vật

3.2.3. Biểu tượng kì ảo và biểu tượng giấc mơ

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

LỜI CAM ĐOAN

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Kí Hiệu Học Cách Đọc Tiểu Thuyết NBP

Kí hiệu học, từ lâu đã trở thành một công cụ hữu ích trong việc giải mã các tác phẩm văn học. Nó giúp chúng ta hiểu rõ hơn về mối quan hệ giữa hình thức và nội dung, giữa cái biểu đạtcái được biểu đạt. Trong bối cảnh văn học Việt Nam đương đại, việc áp dụng kí hiệu học vào phân tích các tác phẩm, đặc biệt là tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương, mở ra những chân trời mới. Nguyễn Bình Phương là một nhà văn có phong cách độc đáo, thường sử dụng các biểu tượng và kí hiệu phức tạp trong tác phẩm của mình. Phân tích Tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương từ góc nhìn kí hiệu học, khảo sát qua Vào cõiThoạt kỳ thuỷ không chỉ là việc giải mã các kí hiệu đơn thuần, mà còn là việc khám phá tầng sâu ý nghĩa và tư tưởng mà nhà văn muốn gửi gắm. Cách tiếp cận này đòi hỏi người đọc phải có kiến thức vững chắc về lí thuyết kí hiệu học, cũng như sự nhạy bén trong việc nhận diện và phân tích các biểu tượng văn học. Việc phân tích này góp phần khẳng định vị thế của Tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương trong dòng chảy văn học Việt Nam.

1.1. Kí Hiệu Học Văn Học Khái Niệm Và Ứng Dụng

Kí hiệu học văn học, như Trần Đình Sử đề xuất, là việc 'mổ xẻ văn bản trên cơ sở giải mã toàn bộ hệ thống kí hiệu, biểu tượng được nhà văn mã hoá'. Điều này bao gồm việc phân tích các yếu tố như ngôn ngữ văn học, tự sự học, và cách chúng tạo nên ý nghĩa trong tác phẩm. Lý thuyết kí hiệu học hỗ trợ khai thác tiềm năng của văn học như một hệ thống kí hiệu đặc thù, giúp giải mã những kí thác mang tính biểu tượng của nhà văn dưới dạng thức ngôn từ nghệ thuật. Kí hiệu học không chỉ mở rộng biên độ phạm vi khảo sát, đối tượng nghiên cứu mà còn đào sâu đến các vấn đề cốt lõi của văn học.

1.2. Tiểu Thuyết Nguyễn Bình Phương Phong Cách Và Đặc Trưng

Nguyễn Bình Phương là một cây bút văn xuôi đa năng, thành công ở thể loại tiểu thuyết. Tiểu thuyết của ông mang cái nhìn mới mẻ về con người, về cá nhân bước ra từ ánh hào quang của Cách mạng và đối diện với cuộc sống mới; về hình ảnh con người đứng ở những làn ranh: giữa cõi hư vô và thực tại; giữa giấc mơ và hành trình nhận diện bản thể thông qua các xung năng. Quá trình giải mã hệ thống kí hiệu này không chỉ cần thiết trong việc xác định các đặc trưng sáng tác của Nguyễn Bình Phương trên bình diện hình thức ngôn ngữ mà xa hơn là khẳng định quyền lực diễn ngôn của tiểu thuyết Việt Nam xung quanh các vấn đề đời tư và xã hội.

II. Vấn Đề Mã Hóa Nhân Vật Kí Hiệu Của Sự Biến Dạng

Một trong những đặc điểm nổi bật trong tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương là cách nhà văn xây dựng nhân vật. Thay vì tạo ra những nhân vật hoàn hảo, lý tưởng, Nguyễn Bình Phương thường tập trung vào những nhân vật có những khiếm khuyết, những vết sẹo về mặt tâm lý. Những nhân vật này thường phải đối mặt với những khó khăn trong cuộc sống, và quá trình họ vượt qua những khó khăn đó là một phần quan trọng trong câu chuyện. Trong Thoạt kỳ thuỷ, các nhân vật mang những đặc điểm kỳ dị, nửa người nửa thú. Trong Vào cõi, nhân vật bị ám ảnh bởi những ký ức đau thương. 'Những nhân vật của ông 'gọi là méo mó, thì đó là cái méo mó tự thân', 'nửa người nửa ngợm'; thậm chí là quay về với nhân dạng nguyên thuỷ', Nguyễn Bình Phương từng viết. Chính sự biến dạng này tạo nên những mã kí hiệu riêng biệt, góp phần thể hiện nội dung tư tưởng của tác phẩm.

2.1. Thoạt Kỳ Thủy Nhân Vật Với Nhân Dạng Nguyên Thủy

Trong Thoạt kỳ thuỷ, nhân vật biến dạng được tổ chức dưới hình thức trở về với nhân dáng nguyên thuỷ của giống loài. Nguyễn Bình Phương không kết hợp miêu tả ngoại hình nhân vật trong mạch kể câu chuyện mà tập hợp thành một phần của văn bản. Toàn bộ diện mạo, lai lịch của các nhân vật đều được ghi chép trong phần tiểu sử; có đến 14/18 nhân vật được miêu tả ngoại hình. Nhân vật trong truyện hiện lên ma quái, rùng rợn, gợi cảm giác choáng ngợp cho người đối diện.

2.2. Vào Cõi Ám Ảnh Quá Khứ Và Sự Tha Hóa

Ở tiểu thuyết Vào cõi, nhân vật biến dạng không được mã hoá giống với Thoạt kì thuỷ. Nguyễn Bình Phương chủ đích hướng đến khai thác sự xảy lặp của ám ảnh quá khứ lên các nhân vật như Vang, Vọng và Hắn nhiều hơn là khai thác phần bản năng giống Tính, Hiền, … Tuy nhiên, ở một số thời điểm đặc biệt, diện mạo nhân vật vẫn có sự thay đổi nhất định.

III. Khám Phá Không Gian Thời Gian Mã Của Vô Thức

Không gian và thời gian nghệ thuật đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng thế giới nghệ thuật của Nguyễn Bình Phương. Trong Vào CõiThoạt Kỳ Thủy, không gian và thời gian thường được mô tả một cách mơ hồ, phi tuyến tính, phản ánh thế giới nội tâm phức tạp của nhân vật. Không gian không chỉ là bối cảnh diễn ra câu chuyện, mà còn là một biểu tượng cho trạng thái tâm lý của nhân vật. Thời gian không trôi theo một trình tự logic, mà bị xáo trộn, lặp lại, tạo ra cảm giác hoang mang, bất định. 'Nguyễn Bình Phương gọi thời gian trong tiểu thuyết của mình là 'thời gian trắng'', tài liệu gốc cho biết. Cách sử dụng không gian và thời gian nghệ thuật độc đáo này là một trong những yếu tố tạo nên phong cách riêng của Nguyễn Bình Phương.

3.1. Không Gian Nghệ Thuật Cõi Vô Thức Và Tâm Linh

Không gian trong tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương không chỉ là những địa điểm cụ thể, mà còn là những cõi vô thức, những không gian tâm linh. Những không gian này thường được mô tả một cách mơ hồ, huyền ảo, tạo ra cảm giác bất an, khó hiểu. Chính những không gian này là nơi các nhân vật đối diện với những nỗi sợ hãi, những ám ảnh trong tâm trí của mình.

3.2. Thời Gian Nghệ Thuật Giấc Mơ Và Sự Lặp Lại

Thời gian trong tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương thường không trôi theo một trình tự tuyến tính. Nó bị xáo trộn, lặp lại, tạo ra cảm giác hoang mang, bất định. Những giấc mơ, những hồi ức quá khứ thường xuyên xuất hiện, làm mờ đi ranh giới giữa thực tại và ảo ảnh. Thời gian không chỉ là một yếu tố bên ngoài, mà còn là một phần của thế giới nội tâm của nhân vật.

IV. Phân Tích Mã Kết Cấu Sự Phân Mảnh Và Liên Văn Bản

Kết cấu của tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương thường mang tính phân mảnhliên văn bản. Thay vì xây dựng một cốt truyện chặt chẽ, tuyến tính, Nguyễn Bình Phương thường sử dụng nhiều mạch truyện song song, đan xen lẫn nhau. Các mạch truyện này có thể không liên quan trực tiếp đến nhau, nhưng lại tạo ra một bức tranh tổng thể phức tạp và đa chiều về cuộc sống. Tính liên văn bản thể hiện ở việc Nguyễn Bình Phương thường sử dụng các yếu tố từ các tác phẩm văn học khác, tạo ra những liên hệ, đối thoại giữa các văn bản.

4.1. Kết Cấu Phân Mảnh Sự Đứt Gãy Của Hiện Thực

Kết cấu phân mảnh trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương phản ánh sự đổ vỡ của hiện thực, sự mất mát niềm tin vào những giá trị truyền thống. Các mạch truyện bị xé lẻ, không theo một trật tự logic, tạo ra cảm giác hỗn loạn, bất định. Sự phân mảnh này cũng thể hiện sự phân mảnh trong tâm trí của nhân vật, sự khó khăn trong việc tìm kiếm ý nghĩa cuộc sống.

4.2. Kết Cấu Liên Văn Bản Đối Thoại Giữa Các Văn Bản

Tính liên văn bản trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương thể hiện ở việc nhà văn thường sử dụng các yếu tố từ các tác phẩm văn học khác, tạo ra những liên hệ, đối thoại giữa các văn bản. Điều này không chỉ làm phong phú thêm ý nghĩa của tác phẩm, mà còn thể hiện sự hiểu biết sâu sắc của nhà văn về lịch sử văn học.

V. Ý Nghĩa Biểu Tượng Giải Mã Tầng Nghĩa Sâu Sắc Nhất

Các biểu tượng trong văn học đóng vai trò quan trọng trong việc truyền tải ý nghĩa và cảm xúc. Trong tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương, các biểu tượng thường mang tính đa nghĩa, mơ hồ, đòi hỏi người đọc phải có sự suy ngẫm, giải thích. Các biểu tượng có thể là những hình ảnh, sự vật, hoặc những khái niệm trừu tượng. Phân tích biểu tượng trong văn học giúp chúng ta hiểu rõ hơn về nội dung tư tưởnggiá trị văn học của tác phẩm.

5.1. Biểu Tượng Kì Ảo Mở Ra Cánh Cửa Vô Thức

Biểu tượng kì ảo trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương thường xuất hiện trong những giấc mơ, những ảo giác, những trạng thái vô thức. Chúng có thể là những hình ảnh kỳ lạ, những sinh vật huyền bí, hoặc những sự kiện phi lý. Biểu tượng kì ảo giúp nhà văn khám phá những tầng sâu của tâm trí con người, những nỗi sợ hãi, những ham muốn thầm kín.

5.2. Biểu Tượng Giấc Mơ Tiếng Nói Của Bản Năng

Biểu tượng giấc mơ trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương thường mang tính cá nhân, phản ánh những trải nghiệm, những ký ức của nhân vật. Chúng có thể là những hình ảnh quen thuộc, nhưng lại mang một ý nghĩa khác thường trong bối cảnh giấc mơ. Biểu tượng giấc mơ giúp nhà văn khám phá những khía cạnh khác nhau của nhân cách nhân vật, những điều mà họ có thể không thể hiện ra trong cuộc sống thực.

VI. Kết Luận Giá Trị Và Hướng Nghiên Cứu Về NBP

Phân tích tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương từ góc nhìn kí hiệu học không chỉ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về phong cách và tư tưởng của nhà văn, mà còn mở ra những hướng nghiên cứu mới về văn học Việt Nam đương đại. Cách tiếp cận này đòi hỏi người đọc phải có kiến thức vững chắc về lí thuyết kí hiệu học, cũng như sự nhạy bén trong việc nhận diện và phân tích các biểu tượng trong văn học. Tuy nhiên, kết quả mà nó mang lại là vô cùng xứng đáng, giúp chúng ta khám phá những tầng sâu ý nghĩa và giá trị của tác phẩm. 'Nghiên cứu về tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương từ góc nhìn kí hiệu học ở Việt Nam vẫn chưa mang tính hệ thống và hoàn chỉnh, đặc biệt đối với hai tác phẩm Thoạt kì thuỷ và Vào cõi phần lớn chỉ mang tính chất giải mã biểu tượng', tài liệu gốc chỉ ra. Đây là tiền đề để thực hiện nhiều nghiên cứu hơn nữa về nhà văn này.

6.1. Tổng Kết Những Đóng Góp Của Nghiên Cứu

Nghiên cứu này đã đóng góp vào việc phân tích các yếu tố như nhân vật, không gian, thời gian, kết cấu và biểu tượng trong tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương từ góc nhìn kí hiệu học. Nó cũng đã chỉ ra những đặc điểm nổi bật trong phong cách và tư tưởng của nhà văn, giúp người đọc hiểu rõ hơn về giá trị văn học của tác phẩm.

6.2. Hướng Nghiên Cứu Tiềm Năng Về Kí Hiệu Học

Nghiên cứu này chỉ là một bước khởi đầu trong việc khám phá tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương từ góc nhìn kí hiệu học. Vẫn còn rất nhiều khía cạnh khác cần được nghiên cứu, như phân tích ngôn ngữ văn học, tự sự học, và cách chúng tạo nên ý nghĩa trong tác phẩm. Hy vọng rằng nghiên cứu này sẽ khuyến khích các nhà nghiên cứu khác tiếp tục khám phá những tiềm năng của kí hiệu học trong việc phân tích văn học Việt Nam.

27/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG 1. Một số thuật ngữ khái niệm cơ bản. Kí hiệu học và kí hiệu học văn học. Thế giới kí hiệu manh nha xuất hiện từ các trước tác của Aristotle, Plato và John Locke.

“Lý thuyết ký hiệu” được John Locke nhắc đến với khái niệm semiotika, nội dung hướng đến việc quan tâm đến bản chất của ký hiệu, tư duy hướng đến việc hiểu sự vật hoặc truyền đạt kiến thức về nó cho người khác. Tuy nhiên, thuật ngữ này chỉ được giới nghiên cứu thực sự quan tâm bởi đề xuất của Ferdinand de Saussure (1857 – 1913) trong lĩnh vực ngôn ngữ học khi xem xét mối quan hệ giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt. Trên trục cơ sở nhị phân, F. Saussure đề cập đến tính hai mặt của kí hiệu cùng với các phạm trù sóng đôi như cái biểu đạt và cái được biểu đạt, ngôn ngữ và lời nói, nội tại và ngoại tại, … Theo Saussure, tín hiệu học/kí hiệu học (sémiologie) hướng đến nghiên cứu đời sống của các tín hiệu trong sinh hoạt xã hội dựa vào quá trình khai thác các tín hiệu bởi một số quy luật nhất định.

Ông cho rằng kí hiệu không thể tồn tại bên ngoài ngôn ngữ, nghĩa là không có sự nảy sinh nghĩa bởi hiện thực khách quan tác động lên đối tượng. Khuynh hướng nghiên cứu của Saussure nhấn mạnh tính chỉnh thể của kí hiệu trong hệ thống ngôn ngữ trên bình diện kết học (syntactics). Bên cạnh mô hình song đôi của Saussure, mô hình tam vị của C. Morris phân tích kí hiệu là sự liên kết giữa 3 thành tố: kí hiệu (sign), đối tượng (object), sự diễn giải (interpretantions); trong đó kí hiệu (sign) được xem như là cái biểu đạt (signifier); đối tượng (object) là suy nghĩ tốt nhất về bất cứ cái gì được biểu đạt.

Khác với Saussure, hướng đi của Pierce thiên về bình diện nghĩa học (semantics); khai thác sự tác động qua lại giữa kí hiệu và thực thể ngoài kí hiệu. Có thể hình dung rằng cả Saussure và Pierce đều chọn kí hiệu làm đơn vị nhỏ nhất, đơn vị nền tảng của ngôn ngữ. Đây là hai con đường tiếp cận kí hiệu truyền thống được Yuri Lotman đề cập trong Kí hiệu học văn hoá. [29] Lấy thành tựu của Saussure và Pierce làm nền tảng; kí hiệu học về sau phát triển mạnh mẽ với nhiều trường phái, luận điểm khác nhau.

Mô hình phân tầng của Louis Hjelmslev 15 (trường phái Copenhagen) xem xét hai mặt của kí hiệu ở yếu tố biểu hiện (expression) và nội dung (content). Hjelmslev phân tích rằng mỗi kí hiệu có một chức năng giữa hình thức nội dung và hình thức biểu hiện, là cơ sở cho phân tích ngôn ngữ trên bình diện ngữ vị học (glossematics). Mỗi chức năng kí hiệu lại biểu hiện hai nghĩa: nghĩa của nội dung (content substance) là sự biểu hiện tâm lí và khái niệm của kí hiệu và nghĩa của biểu hiện (expression substance) là nội dung vật chất, nơi mà một kí hiệu được biểu hiện. Trường phái Prague với dấu ấn của R.

Jacobson đã phát triển ý tưởng của Saussure, không chỉ đi sâu ở khía cạnh kết học, vấn đề biểu nghĩa mà còn mở rộng kí hiệu ở khía cạnh dụng học (pragmatics). Công trình của các trường phái kể trên không chỉ là tiền đề mà còn tác động mạnh mẽ cho sự hình thành của kí hiệu học cấu trúc. Nghiên cứu kí hiệu học trong dòng chảy hậu cấu trúc luận về sau đón nhận nhiều cái tên như R. Barthes với tuyên bố “cái chết của tác giả”, xé lẻ chỉnh thể cấu trúc văn bản và quan tâm đến khả năng diễn giải của mã nghệ thuật; J.

Derrida với quan điểm không gian kí hiệu là mô hình kí ức văn hoá nối dài, xếp chồng của chuỗi mã cũ và mới; J.Griemas với lý thuyết diễn ngôn của thơ hay J. Kristeva với đề xuất khái niệm liên văn bản, khai thác kí hiệu một chỉnh thể văn bản cố định trở thành liên kí hiệu ở các tầng kết nối cao hơn. Ủng hộ mô hình cấu trúc tam vị của Pierce là Roland Barthes khi ông chỉ ra tiềm năng của kí hiệu học trong việc phân tích và giải nghĩa các biểu tượng huyền thoại. Quan điểm của Barthes được Thuỵ Khuê phân tích cụ thể trong chương 17 của Phê bình văn học thế kỉ XX [27].

Barthes nhấn mạnh “huyền thoại như một hệ thống kí hiệu” được tạo ra từ các chuỗi kí hiệu trước đó. Ông thực hiện một loạt các công trình nghiên cứu về kí hiệu học như Các thành tố của kí hiệu học (1964); Tuyển tập các công trình kí hiệu học, thi pháp học (1989); “Cơ sở của kí hiệu học” (Chủ nghĩa cấu trúc và văn hóa, 2002). Trong công trình Mã văn hoá trong tác phẩm văn học - những vấn đề lý thuyết và giảng dạy [10, tr. Lê Nguyên Cẩn đề cập đến tiểu luận Các thành tố của kí hiệu học (Élesments de la semiologie).

Ông chỉ ra rằng Barthes tin vào sự nở rộ của kí hiệu học bởi tầm quan trọng của hệ thống kí hiệu trong đời sống, thế nhưng trước nhất cần xác định rõ nội hàm lí thuyết lẫn phương pháp tiếp cận đối với kí hiệu vượt lên trên hiểu biết của ngôn ngữ học, chạm đến yếu tố phi ngôn ngữ. Theo Barthes, mọi lĩnh vực liên quan đến nền tảng diễn giải, kí 16 thác đều tận dụng được khả năng của kí hiệu, không chỉ riêng gì ở mặt ngôn ngữ. Đây cũng chính là hướng khai thác của Umberto Eco trên cơ chế chuyển mã của Barthes. Xuất phát từ học thuyết của Pierce, Eco cho rằng tín hiệu/kí hiệu luôn đi liền với sự diễn giải trên cơ sở tôn trọng mã văn bản sẵn có.

Sau thành công của các lí thuyết kí hiệu học ở bình diện ngôn ngữ học; dưới sự tác động mạnh mẽ của chủ nghĩa cấu trúc, trường phái kí hiệu học Tartu-Moskva do Yuri Lotman khởi xướng đã mở rộng phạm vi kí hiệu học bao trùm lên các lĩnh vực nghệ thuật khác bao gồm cả văn hoá và xã hội. Về cơ bản, Yuri Lotman cho rằng kí hiệu được tạo lập thành một hệ thống tầng bậc, tổ chức kí hiệu thấp được qui định bởi tổ chức kí hiệu cao hơn. Ông viết: “Kí hiệu học văn hoá là bộ môn khoa học có nhiệm vụ khảo sát sự tương tác giữa các hệ thống kí hiệu có cấu trúc khác nhau, khám phá sự vênh lệch, không đồng bộ bên trong của không gian kí hiệu, nghiên cứu sự cần thiết phải hiểu biết nhiều ngôn ngữ văn hoá và kí hiệu học” [29, tr. Với quan điểm phân biệt chỉnh thể ngôn ngữ trong mối quan hệ tách rời với chỉnh thể văn bản (text), Lotman cho rằng kí hiệu không đơn thuần là sự luân chuyển một chiều giữa cái được biểu đạt và cái biểu đạt, giữa người phát mã và người nhận mã mà là một mối quan hệ phức tạp gấp nhiều lần.

Khi mối quan hệ giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt, giữa người tạo mã và người giải mã càng kết nối phức tạp thì mã kí hiệu hay biểu tượng sẽ phát huy quyền lực của nó. Quan điểm của Lotman về sau được kết hợp với nhiều lí thuyết khác nhau trong đó có lí thuyết đối thoại của Bakhtin, lí thuyết diễn ngôn của Foucault hình thành nên các hướng đi mới cho nghiên cứu kí hiệu học văn hoá. Lã Nguyên trong Một số vấn đề về kí hiệu học văn hóa chia các quan điểm về kí hiệu học trên thế giới thành 3 nhóm: Nhóm thứ nhất bao gồm các định nghĩa căn bản và phổ biến nhất về kí hiệu học: Kí hiệu học là khoa học về các kí hiệu và/hoặc về các hệ thống kí hiệu (dựa vào đối tượng). Nhóm thứ hai bao gồm các định nghĩa dựa trên khía cạnh phương pháp: Kí hiệu học là khoa học lấy các phương pháp ngôn ngữ học phân tích các đối tượng không phải là ngôn ngữ tự nhiên.

17 Nhóm thứ ba là các định nghĩa gần với quan điểm của Yuri Lotman: Kí hiệu học là khoa học về các hệ thống giao tiếp và các kí hiệu được sử dụng trong quá trình thông tin. Trong Từ điển các khái niệm ngôn ngữ học, Nguyễn Thiện Giáp định nghĩa tín hiệu học (semiotics, semiology) là “ngành khoa học nghiên cứu về tín hiệu và cách thức sử dụng tín hiệu” [17, tr. Cũng trong phần khái niệm này, ông cho rằng tín hiệu học giải quyết toàn bộ các mã của đời sống và ngôn ngữ chỉ là một bộ phận của hệ thống tín hiệu, có chăng là một điển mẫu tín hiệu mà thôi. Có thể thấy rằng, ngày nay kí hiệu học/tín hiệu học không dừng lại ở biên giới của ngôn ngữ, văn học mà lan rộng đến toàn bộ các lĩnh vực của đời sống như quan điểm của Yuri Lotman đề cập trước đó.

Ủng hộ quan điểm của Lotman còn có nhà nghiên cứu Trịnh Bá Đĩnh khi tác giả khẳng định kí hiệu học trước nhất là kí hiệu văn hoá và nhấn mạnh văn học là một hình thái ý thức văn hoá – xã hội với khả năng vay mượn toàn bộ hệ thống kí hiệu của phông nền văn hoá. Trong Từ điển thuật ngữ Văn học (Lê Bá Hán – Trần Đình Sử – Nguyễn Khắc Phi đồng chủ biên), kí hiệu học được định nghĩa là “khoa học về các kí hiệu và hệ thống kí hiệu (semiology) nghiên cứu mọi phương thức giao tiếp (truyền thông tin) bằng các biểu trưng. Kí hiệu học khảo sát sự gián tiếp của động vật, của con người và các quan hệ trong hệ thống “người – máy”. Những khách thể nào có thể khảo sát được như những ngôn ngữ đều là đối tượng của kí hiệu học” [18, tr.

Bên cạnh đó, các tác giả cũng nhấn mạnh sự tác động giữa văn bản mang kí hiệu với phông nền văn hoá bên ngoài văn bản. Kí hiệu học văn học ra đời dựa trên mối quan hệ mật thiết của văn chương với ngôn ngữ. Ngôn ngữ với vai trò là công cụ, phương tiện kí thác nội dung tư tưởng của người nghệ sĩ thành các mã và quá trình tiếp nhận của bạn đọc chính là con đường giải mã, tri nhận kí hiệu/chuỗi kí hiệu ấy. Dựa trên quan điểm phương tiện đặc thù của văn học là ngôn ngữ nghệ thuật thì hệ thống này xuất phát từ ngôn ngữ tự nhiên và được tái mã hoá vào văn bản.

Như vậy, nếu như kí hiệu học cơ bản giải quyết các nội dung của ngôn ngữ học thì kí hiệu học văn học lại giải quyết nội dung của văn học trên bình diện ngôn ngữ và biểu tượng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ