Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Lí luận văn học của tác giả Lưu Đức Duy, được thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Thanh Trường tại Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng (tháng 4 năm 2020), tiếp cận sáng tác của nhà văn Nguyễn Bình Phương dưới khung lý thuyết ký hiệu học văn học.

Về bối cảnh học thuật và thực tiễn, văn học Việt Nam sau năm 1975, đặc biệt là giai đoạn sau Đổi mới (1986), đã chuyển dịch căn bản từ cảm quan sử thi sang việc khai thác đời tư, bản năng, cội nguồn bản thể và đời sống tính dục. Đề tài hậu chiến được soi chiếu lại với tâm chấn là gương mặt người lính đối diện với thực tại đời thường qua các cây bút như Bảo Ninh, Dương Hướng, Chu Lai và Nguyễn Bình Phương. Trong tiến trình này, các hướng tiếp cận văn học truyền thống theo phản ánh luận hoặc cơ sở hình tượng nghệ thuật của lý luận Xô viết dần bộc lộ giới hạn. Như GS. Trần Đình Sử từng nhận định, việc đưa ký hiệu học vào quá trình đọc hiểu văn bản là bước đi cần thiết nhằm giải mã toàn bộ hệ thống ký hiệu, biểu tượng do nhà văn mã hóa.

Nguyễn Bình Phương là tác giả hoạt động tích cực ở nhiều thể loại (thơ ca, truyện ngắn, tiểu luận), song thành công tiêu biểu nằm ở thể loại tiểu thuyết. Sáng tác của ông mang cái nhìn mới về con người đứng ở các lằn ranh: giữa cõi hư vô và thực tại, giữa giấc mơ và sự nhận diện bản thể thông qua các xung năng bản năng. Khóa luận xác lập mục tiêu và các nhiệm vụ nghiên cứu sau:

  1. Phân tích có hệ thống chỉnh thể ký hiệu trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương qua việc nhận diện các bộ mã nghệ thuật: mã kết cấu, mã không gian, mã thời gian, mã nhân vật, mã ngôn ngữ và mã biểu tượng.
  2. Lý giải cơ chế tái cấu trúc ký hiệu hóa của tác giả trong mối quan hệ với đặc trưng thể loại tiểu thuyết, hiện thực khách quan, quy ước văn hóa cộng đồng và phong cách sáng tác cá nhân.
  3. Rút ra nhận xét, đánh giá về quyền lực diễn ngôn tiểu thuyết và phong cách nghệ thuật của Nguyễn Bình Phương trong diễn trình phát triển của văn xuôi Việt Nam đương đại.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hệ thống ký hiệu trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương dưới hình thức các bộ mã mang tính đặc thù của lý thuyết ký hiệu học. Phạm vi khảo sát tập trung vào hai tác phẩm: Vào cõi (Nxb Thanh niên, 1991 – tiểu thuyết đầu tay) và Thoạt kỳ thủy (Nxb Hội nhà văn, 2004). Việc lựa chọn hai văn bản này nhằm nhận diện sự chuyển dịch tư duy sáng tác của nhà văn giữa hai thời kỳ: từ giai đoạn bước đầu định hình phong cách đến giai đoạn hoàn thiện năng lực tái cấu trúc hệ thống ký hiệu và mã hóa biểu tượng mang cảm quan hậu hiện đại.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng hệ thống thao tác dựa trên các thành tựu lý thuyết ký hiệu học kinh điển và hiện đại của phương Tây cùng quá trình tiếp nhận tại Việt Nam:

  • Khung lý thuyết ký hiệu học nền tảng: Mô hình nhị phân của Ferdinand de Saussure (mối quan hệ giữa cái biểu đạt – signifier và cái được biểu đạt – signified, bình diện kết học syntactics); mô hình tam vị của Charles Sanders Peirce (mối liên kết giữa ký hiệu – sign, đối tượng – object, sự diễn giải – interpretant; phân loại ký hiệu thành chỉ hiệu – indexes, hình hiệu – icons và tượng hiệu/biểu tượng – symbols; bình diện nghĩa học semantics).
  • Ký hiệu học cấu trúc, hậu cấu trúc và ký hiệu học văn hóa: Mô hình phân tầng của Louis Hjelmslev (hình thức nội dung và hình thức biểu hiện); quan điểm của Roman Jakobson về bình diện dụng học (pragmatics); Roland Barthes với quan niệm văn bản nghệ thuật là "hệ thống ký hiệu thứ hai", phân loại 5 mã văn học qua tác phẩm Sarrasine và khái niệm huyền thoại; Umberto Eco với cơ chế chuyển mã và độ mở của biểu tượng; lý thuyết ký hiệu quyển (semiosphere) và hệ thống tầng bậc của Yuri Lotman (trường phái Tartu – Moskva); phân loại 3 dạng mã của Pierre Guiraud (mã logic, mã xã hội, mã thẩm mĩ); quan niệm về nguyên mẫu và vô thức tập thể của Carl Gustav Jung.
  • Tiếp nhận tại Việt Nam: Khóa luận kế thừa kết quả nghiên cứu của các học giả trong nước như Hoàng Trinh, Lã Nguyên, Lê Huy Bắc (Kí hiệu học văn học, Kí hiệu và liên kí hiệu), Lê Nguyên Cẩn (Mã văn hoá trong tác phẩm văn học - những vấn đề lí thuyết và giảng dạy), Trịnh Bá Đĩnh (Từ kí hiệu đến biểu tượng), Trần Đình Sử.

Phương pháp nghiên cứu thực tế được triển khai bao gồm:

  1. Phương pháp hệ thống – cấu trúc: Tiếp cận hai tiểu thuyết như những chỉnh thể hệ thống ký hiệu; khảo sát các quy tắc tổ hợp, tương tác giữa các bộ mã thành phần (nhân vật, không – thời gian, kết cấu, ngôn ngữ, biểu tượng).
  2. Phương pháp so sánh – đối chiếu: So sánh hướng tiếp cận ký hiệu học với các lý thuyết thi pháp học, phân tâm học; đối chiếu đặc điểm nghệ thuật của Nguyễn Bình Phương với các nhà văn cùng thời; so sánh sự vận động nghệ thuật giữa Vào cõi và Thoạt kỳ thủy.
  3. Phương pháp liên ngành: Phối hợp ký hiệu học với ngôn ngữ học (kết cấu bề mặt ngôn từ), văn hóa học (phông nền văn hóa ngầm ẩn), tâm lý học và lý thuyết diễn ngôn.

Nguồn dữ liệu nghiên cứu là văn bản hai tiểu thuyết Vào cõi và Thoạt kỳ thủy, kết hợp các công trình phê bình của Thụy Khuê, Đoàn Cầm Thi, Đoàn Ánh Dương, Phùng Gia Thế, Nguyễn Chí Hoan, Nguyễn Phước Bảo Nhân.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những vấn đề lí luận chung

Chương 1 thiết lập hệ thống khái niệm công cụ phục vụ việc phân tích văn bản:

  • Ký hiệu học và ký hiệu học văn học: Ký hiệu học khảo sát đời sống của các ký hiệu trong sinh hoạt xã hội. Ký hiệu học văn học coi ngôn ngữ tự nhiên là hệ thống tiền ký hiệu; văn bản văn học là sự tái mã hóa ngôn ngữ tự nhiên thành một hệ thống ký hiệu bậc cao (ngôn ngữ nghệ thuật) nhằm truyền tải thông tin thẩm mỹ đặc thù.
  • Ký hiệu và mã thẩm mĩ: Mã là hệ thống quy ước chuyển giao thông tin. Mã thẩm mĩ mang tính chủ quan cảm xúc, đóng vai trò "điểm nối" giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt, đòi hỏi sự tương thích về tầm đón nhận giữa người phát mã (nhà văn) và người giải mã (người đọc).
  • Ký hiệu và biểu tượng nghệ thuật: Biểu tượng là dạng thức ký hiệu cao cấp, đa nghĩa, mang tính tượng trưng, tính thống nhất và tính tiếp biến; biểu tượng chứa đựng trầm tích văn hóa cộng đồng kết hợp với cảm quan nghệ thuật riêng của tác giả.
  • Mã thể loại tiểu thuyết và cơ chế tái cấu trúc kí hiệu hóa ở Nguyễn Bình Phương: Thể loại tiểu thuyết sở hữu tính mềm dẻo, dung hợp cao. Ở Nguyễn Bình Phương, các quy ước cổ điển bị phá vỡ để tái cấu trúc thành các bộ mã mang cảm quan hậu hiện đại: không gian tâm linh, vô thức; "thời gian trắng" và "ký ức trắng" xóa nhòa các mốc thực tế; kết cấu phân mảnh, đồng hiện; ngôn ngữ vô thức đứt gãy và lớp từ ngữ đời thường, dung tục.

Chương 2: Tiểu thuyết Thoạt kỳ thủy, Vào cõi của Nguyễn Bình Phương nhìn từ mã nhân vật và mã không - thời gian nghệ thuật

Chương 2 đi sâu giải mã hai hệ thống mã nghệ thuật chủ chốt:

  • Mã nhân vật:
    • Nhân vật "biến dạng": Nguyễn Bình Phương triệt tiêu hình tượng con người nguyên vẹn để hướng vào bản năng nguyên thủy. Trong Thoạt kỳ thủy, tác giả tách phần tiểu sử nhân vật thành một mục riêng ở đầu tác phẩm; có 14 trên tổng số 18 nhân vật được miêu tả ngoại hình mang dáng dấp loài vật. Tiêu biểu là nhân vật Tính: cao 1m68, nặng 56kg, tay dài, chân ngắn, lông tay đỏ hồng, ngón không phân đốt, mồm rộng, răng cải mả, đi như vượn, ngồi như gấu. Chú Mười có mũi sư tử, dáng ngũ đoản; Hiền mang vẻ đẹp gợi dục bản năng. Trong Vào cõi, sự biến dạng không nằm ở toàn bộ thể xác mà bộc lộ qua đôi mắt: Vọng có ánh mắt mang hình dã thú sau khi chứng kiến bố bị giết; Hắn có lòng trắng mắt bên trái bầm đỏ như cục máu; mụ Đông điên thọt chân, mắt lép mủ, tay như chùm rễ tre ngâm nước ao.
    • Nhân vật chấn thương: Nhân vật nam thường mang chấn thương gắn với cái chết; nhân vật nữ gắn với ẩn ức dục vọng và gia đình. Trong Thoạt kỳ thủy, Tính bị chấn thương tiền sinh nở (mẹ bị đạp vào bụng khi mang thai), lớn lên cùng mùi máu mổ lợn dẫn đến say mê hủy diệt, thích chém giết và đập đá; Hưng là thương binh mang chấn thương chiến tranh, luôn ám ảnh về cái chết của mẹ gắn với hình ảnh cánh bướm trắng, bắn chết trâu và bắn chết Phùng; ông Phước nghiện rượu cắn nát chén thủy tinh. Trong Vào cõi, Vọng chấn thương vì chứng kiến bố bị đánh chết; Hắn (kẻ giết bố Vọng) luôn sống trong ám ảnh sợ bị trả thù và mơ thấy chén máu; Vang chấn thương vì sự tan vỡ gia đình, tự phá bỏ cái thai với Loạng để giữ thể diện.
    • Nhân vật truy tìm bản thể: Con người trút bỏ chuẩn mực đạo đức xã hội để truy tìm nguồn cội bản năng thông qua các xung năng vô thức, tính dục và xung năng chết (Tính, Hiền).
  • Mã không gian, thời gian nghệ thuật:
    • Không gian của cõi vô thức, tâm linh: Vùng đất Linh Sơn hoang vu, không gian bãi tha ma, các giấc mơ ma quái; ranh giới giữa cõi sống và cõi chết, giữa người và ma bị xóa nhòa.
    • Thời gian của giấc mơ: Thời gian phi tuyến tính, thời gian tâm trạng; tác giả xóa bỏ các mốc niên đại xác thực, chỉ dùng các trạng từ chỉ thời gian mơ hồ ("trưa", "đêm", "mấy năm sau").
    • Không – thời gian đồng hiện: Đan lồng cõi thực và cõi ảo, quá khứ và hiện tại trong cùng một thời điểm trần thuật.

Chương 3: Tiểu thuyết Thoạt kỳ thủy, Vào cõi của Nguyễn Bình Phương nhìn từ mã kết cấu, mã ngôn ngữ và mã biểu tượng

Chương 3 khảo sát các cấu trúc hình thức bề mặt và tầng nghĩa biểu tượng:

  • Mã kết cấu:
    • Kết cấu liên văn bản: Sử dụng các văn bản ngầm ẩn, sự tiếp nối hình tượng người điên (như hình tượng người đàn bà điên trong tác phẩm Và cỏ của nhà văn Phùng lặp lại ở Thoạt kỳ thủy); các lớp văn hóa dân gian và huyền thoại.
    • Kết cấu phân mảnh: Xé nhỏ mạch trần thuật thành các đoạn rời rạc, làm tan rã cốt truyện nhân quả truyền thống, tạo cảm giác về một thế giới đổ vỡ.
    • Kết cấu đồng hiện: Tổ chức tác phẩm theo hai tuyến song song: một tuyến đời thường thế sự và một tuyến huyền ảo, mộng mị, vô thức.
  • Mã ngôn ngữ, mã biểu tượng:
    • Ngôn ngữ người kể chuyện: Duy trì điểm nhìn trung tính, lạnh lùng; câu văn ngắn, giản lược các quan hệ từ liên kết, nhịp điệu chậm và dồn nén.
    • Ngôn ngữ nhân vật: Ngôn ngữ người điên, u mê, chắp nối; các cuộc đối thoại một chiều (đối thoại diễn ra như độc thoại, không tạo lập giao tiếp thực thụ); gia tăng ngôn ngữ đời thường dung tục nhằm lột tả sự tha hóa và trạng thái bản năng trần trụi.
    • Biểu tượng kỳ ảo và biểu tượng giấc mơ: Ánh trăng sắc lạnh thúc giục thú tính; cánh bướm trắng gắn liền với cái chết và sự ám ảnh mẫu thân; con dao, vết bầm và chén máu biểu trưng cho bạo lực, tội ác và cảm giác tội lỗi.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận làm sáng tỏ các đặc điểm thi pháp tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương từ góc độ ký hiệu học qua hai văn bản đại diện. Kết quả so sánh giữa hai tác phẩm được tổng hợp trong bảng sau:

Tiêu chí ký hiệu học Tiểu thuyết Vào cõi (1991) Tiểu thuyết Thoạt kỳ thủy (2004)
Mã nhân vật biến dạng Biến dạng cục bộ, chủ yếu tập trung qua cái nhìn và đôi mắt (ánh mắt dã thú của Vọng, cục đỏ bầm ở mắt Hắn, mắt lép mủ của mụ Đông điên). Biến dạng toàn diện về nhân hình; 14/18 nhân vật trong phần tiểu sử được miêu tả mang đặc điểm của thú (Tính đi như vượn, ngồi như gấu).
Mã nhân vật chấn thương Chấn thương tâm lý xã hội (nỗi nhục nghèo khổ, cái chết của bố Vọng, nỗi sợ tội ác bị trừng phạt của Hắn, bi kịch gia đình của Vang). Chấn thương hủy diệt và bệnh lý (Tính bị chấn thương từ bào thai, khát máu; Hưng sang chấn hậu chiến; ông Phước nghiện rượu nhai thủy tinh).
Mã không gian – thời gian Không gian đời thường đan xen không gian tâm linh; thời gian hồi ức đè nặng lên thực tại. Không gian hoang vu Linh Sơn; "thời gian trắng" và thời gian của trạng thái mộng mị, điên loạn.
Mã kết cấu Đan cài hai tuyến thực – ảo nhưng cốt truyện thế sự còn giữ được tính liên tục tương đối. Phân mảnh triệt để, kết cấu đồng hiện đa tầng, phân rã mạch sự kiện nhân quả.
Mã ngôn ngữ và biểu tượng Ngôn ngữ nội tâm nhiều trăn trở; biểu tượng nổi bật là chén máu, vết bầm. Ngôn ngữ câu ngắn đứt gãy, lời nói người điên, đối thoại một chiều; biểu tượng trăng lạnh, cánh bướm, máu và dao.

Về đóng góp học thuật, khóa luận mang lại các giá trị cụ thể:

  • Xác lập một quy trình thao tác ký hiệu học văn học hoàn chỉnh (mã nhân vật, mã không – thời gian, mã kết cấu, mã ngôn ngữ, mã biểu tượng) để giải mã văn xuôi nghệ thuật phức đại, thay vì chỉ tiếp cận tản mạn ở góc độ phân tâm học hay thi pháp học thuần túy.
  • Chứng minh tính quy luật trong sự tiến triển phong cách của Nguyễn Bình Phương: từ những tìm tòi ban đầu ở Vào cõi đến sự định hình vững chắc tư duy nghệ thuật hậu hiện đại ở Thoạt kỳ thủy.
  • Khẳng định quyền lực diễn ngôn của tiểu thuyết đương đại Việt Nam trong việc dũng cảm nhìn thẳng vào những vùng mờ tối, bản năng, phi lý của con người hậu chiến và đời thường.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận có một số giới hạn xuất phát từ phạm vi nghiên cứu:

  • Hạn chế: Khảo sát mới dừng lại ở 2 trong tổng số 8 tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương xuất bản tính đến thời điểm nghiên cứu (chưa bao quát các tác phẩm quan trọng khác như Những đứa trẻ chết già, Người đi vắng, Trí nhớ suy tàn, Ngồi, Mình và họ); chưa khảo sát đối sánh với mảng thơ và truyện ngắn của cùng tác giả.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng khung phân tích ký hiệu học sang toàn bộ hệ thống tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương; đi sâu giải mã các siêu mã liên văn bản và mã văn hóa không gian miền núi/trung du Thái Nguyên; đối sánh hệ thống mã nghệ thuật của Nguyễn Bình Phương với các hiện tượng tiểu thuyết hậu hiện đại khác trong nước và khu vực.

Giá trị tham khảo

Công trình là tài liệu tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Lí luận văn học, Văn học Việt Nam, Sư phạm Ngữ văn đang thực hiện các đề tài về thi pháp tiểu thuyết đương đại, văn học hậu hiện đại hoặc lý thuyết ký hiệu học văn hóa.
  • Giảng viên giảng dạy học phần Lí luận văn học, Văn học Việt Nam hiện đại sau 1975 và phương pháp phân tích tác phẩm tự sự.
  • Các phần đáng tham khảo trực tiếp gồm: hệ thống hóa lý thuyết về mã thẩm mĩ và ký hiệu học văn học ở Chương 1; hệ thống tiêu chí nhận diện nhân vật biến dạng – chấn thương ở Chương 2; phương pháp bóc tách kết cấu phân mảnh và ngôn ngữ người điên ở Chương 3.

Câu hỏi thường gặp

1. Vì sao tác giả lựa chọn khảo sát hai tiểu thuyết Vào cõi và Thoạt kỳ thủy thay vì các tác phẩm khác của Nguyễn Bình Phương?
Tác giả lựa chọn Vào cõi (1991) và Thoạt kỳ thủy (2004) nhằm mục đích khảo sát sự chuyển dịch tư duy sáng tác của Nguyễn Bình Phương giữa hai mốc thời gian: Vào cõi đánh dấu tiểu thuyết đầu tay với những bước thể nghiệm ban đầu, còn Thoạt kỳ thủy thể hiện sự chín muồi trong việc tái cấu trúc hệ thống ký hiệu, bộc lộ rõ rệt kỹ thuật phân mảnh và cảm quan hậu hiện đại.

2. Điểm đặc thù trong cách miêu tả nhân vật biến dạng ở Thoạt kỳ thủy là gì?
Trong Thoạt kỳ thủy, Nguyễn Bình Phương không lồng ghép việc miêu tả ngoại hình rải rác vào mạch truyện mà gom thành một phần tiểu sử độc lập ở đầu sách. Tại đây, có 14/18 nhân vật được khắc họa mang nhân dạng loài vật (như Tính có tay dài, chân ngắn, răng cải mả, đi như vượn, ngồi như gấu; chú Mười có mũi sư tử, dáng ngũ đoản).

3. Khái niệm "thời gian trắng" và "ký ức trắng" trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương được khóa luận lý giải như thế nào?
"Thời gian trắng" là kiểu thời gian phi thực tế, bị đảo lộn dòng chảy, xóa bỏ các cột mốc lịch sử hay năm tháng cụ thể và chỉ còn lại các trạng từ mơ hồ như "trưa", "đêm", "mấy năm sau". Gắn liền với đó, "ký ức trắng" chỉ trạng thái tâm thức nhân vật vẫn biết có sự kiện từng diễn ra nhưng chi tiết ký ức đã bị xóa mờ, khiến con người mất phương hướng trên hành trình nhận diện bản thể.

4. Sự khác biệt về dạng thức chấn thương của nhân vật giữa hai tiểu thuyết được phân tích ra sao?
Ở Vào cõi, chấn thương gắn liền với nỗi đau thế sự và bi kịch gia đình (Vọng ám ảnh cảnh bố bị đánh chết vì móc túi, Hắn ám ảnh tội ác giết người và sợ bị trả thù, Vang đau đớn vì gia cảnh sa sút và phải phá thai). Ở Thoạt kỳ thủy, chấn thương chuyển sang dạng thức bệnh lý, vô thức và chiến tranh (Tính bị chấn thương từ khi còn trong bụng mẹ, say mê máu và hủy diệt; Hưng sang chấn thần kinh hậu chiến, gắn ám ảnh người mẹ đã khuất với cánh bướm trắng).

5. Ngôn ngữ đối thoại của nhân vật trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương có đặc điểm gì nổi bật dưới góc nhìn ký hiệu học?
Ngôn ngữ đối thoại trong tác phẩm xuất hiện không nhằm mục đích thiết lập giao tiếp thực tế. Đó là kiểu đối thoại một chiều hoặc đối thoại như độc thoại; lời nói bị đứt gãy, chắp nối, vô nghĩa, phản ánh tâm thức u mê, điên loạn của nhân vật và sự đổ vỡ trong mối liên kết người – người.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Lưu Đức Duy đã ứng dụng thành công khung lý thuyết ký hiệu học văn học để giải mã thế giới nghệ thuật phức hợp trong hai tiểu thuyết Vào cõi và Thoạt kỳ thủy của Nguyễn Bình Phương. Thông qua việc phân tích tỉ mỉ các mã nhân vật biến dạng – chấn thương, mã không – thời gian tâm linh, mã kết cấu phân mảnh và mã ngôn ngữ vô thức, công trình làm nổi bật quy luật cách tân nghệ thuật của nhà văn. Đây là một tài liệu học thuật có phương pháp rõ ràng, cung cấp nguồn dữ liệu tin cậy cho việc nghiên cứu tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ Đổi mới.