Chương 1. Kiến trúc thời kỳ cộng đồng nguyên thúy Ll. Thời kỳ đồ đá cũ (2,5 vạn I vạn năm tr. Thời kỳ đồ đá mới (1 vạn năm — 3 nghìn năm tr.
Thời kỳ đồ đồng (3 nghìn năm tr. Kiến trúc thời kỳ xã hội nô lệ 2. Kiến trúc Ai cập cô đại (từ năm 4000 TCN). Kiến trúc Lưỡng Hà và Ba Tu (từ năm 5000 TCN).
Kiến trúc thời kỳ Tiền Columbo (TK V TCN- TK XVI TCN). Kiến trúc Hy Lạp cổ đại (TK VIII TCN- TKI TCN). Kiến trúc La Mã cổ đại (TK III TCN- TK V SCN). Kiến trúc thời kỳ phong kiến Châu Âu 3.
Kiến trúc Byzantine (TK IV). Kiến trúc Roman (TKTV-- TK XY) secre 112 3. Kiến trúc Gothic (TK XII~ TK XV). Kiến trúc thời kỳ Phục Hưng (TK XV - TK XVI.
Kiến trúc Baroque và Roccoco (cuối TK XVI- TK XVIII. Chủ nghĩa Cổ điển Pháp (TK XVII- TK XVII). Kiến trúc hiện đại 4. Dau hiệu báo hiệu sự ra đời của Kiến trúc Hiện đại.
Trào lưu Mô-đéc : Art Nouveau-Art Déco. 138 E2 đi jnpvco0iso ST“. Kiến trúc hữu cơ. Chủ nghĩa biểu hiện.
Chủ nghĩa thô mộc. Kiến trúc Hậu hiện đại. Kiến trúc High-Tech. Chủ nghĩa Phi cấu tạo.
Kiến trúc sinh thái. Lịch sử kiến trúc Châu Á 5. Kiến trúc Trung Quốc. Kiến trúc Nhật Bản.
Kiến trúc An Độ.-cc¿ 192 PHAN 2 ~ LICH SỬ KIÊN TRÚC VIỆT NAM Khái quát chung. Kiến trúc Việt Nam thời kỳ sơ khai 201 Chương 2. Kiến trúc cỗ Việt Nam 2. Kiến trúc quân sự - quốc phòng 205 2.
Kiến trúc cung điện — dinh thự. Kiến trúc tôn giáo — tín ngưỡng. Kiến trúc dân gian.Kiến trúc vườn cảnh. Kiến trúc thuộc địa 3.
Phong cách kiến trúc Tiền thực dân (Phong cách trại lính). Phong cách kiến trúc Tân cô dién. Phong cách kiến trúc địa phương Pháp 238 3. Phong cách kiến trúc Art Deco, Art Neauvo.
Phong cách kiến trúc Đông DUO. vscsevevosanmesvnnenassnwanrcveuen 240 Chương 4. Kiến trúc mới 4. Giai đoạn trước năm 1954.
Kiến trúc đương đại 254 TÀI LIỆU THAM KHẢO PHAN 1- LICH SỬ KIÊN TRÚC THE GIỚI CHUONG 1 - KIÊN TRÚC THỜI KỲ CONG DONG NGUYÊN THỦY 1. Thời kỳ đồ đá cũ (2,5 vạn — 1 vạn năm tr. Thời kỳ này, con người sống theo chế độ thị tộc : sống theo từng nhóm nhỏ, gồm vài gia đình có quan hệ họ hàng gần gũi với nhau, cùng làm chung, ăn chung. Những hình thức nhà ở thô sơ lúc bấy giờ như : đào ham trong lòng dat, khoét hang vào núi, lấy cây ghép thành liếp chắn gió.dần dan cải tiến thành lều tròn có mái chóp nón, hoặc nhà vuông, mái dốc hai bên, nhà sàn với vật liệu thường làm bằng cành cây và miết đất.
Hiện nay còn tồn tại một số di chỉ như : - Hang động Lascaux (Pháp) có hình vẽ khắc họa những con nai, con ngựa - Hang động Font de Gaume (Pháp) - Hang động Pech Merle ở Lot (thuộc Pháp) - Một số di chỉ còn sót lại của các liếp chắn gió ở Alsace (Pháp) hay Olduvai (Tanzania). Sau này trong suốt 4 thé kỷ, từ thé kỷ thứ XV, người ta đã bắt gặp những bộ lạc người da đỏ ở Châu Mỹ vẫn sống trong thời kỳ đồ đá. Loại lều của họ làm bằng vỏ cây hoặc đất có hình chóp nón hay vòm khum. ở bán đảo Malaya cành cây hình tròn của bộ lạc da đỏ ở Mỹ 1.
Thời kỳ đồ đá mới (1 vạn năm - 3 nghìn năm tr.CN) Ở Tây Nam A, thời kỳ đồ đá trong lich sử kiến trúc bắt đầu từ khoảng Ivan năm tr.CN ở cùng Cận Đông (levant), từ thời kỳ Tiền đồ sứ Đồ đã mới A và Tiền đồ sứ Đồ đá mới B (Pre-Pottery Neolithic A/ Pre-Pottery Neolithic B) và mở rộng ra hướng Đông và hướng Tây. Thời kỳ văn minh Đồ đá mới ở Đông Nam Anatolia, Syria và Iraq vào khoảng 8000 năm tr. Hình thái xã hội hái lượm bắt đầu từ 7000 năm tr.CN ở Đông Nam Châu Âu, và ở Trung Âu vào khoảng 5500 năm tr. Ở Châu Mỹ và Châu Đại Dương, người thổ dân bản địa vẫn còn ở thời kỳ đồ đá cho đến khi người Châu Âu khám phá ra họ.
Sang thời kỳ đồ đá mới, con người đã biết gia công đá thành công cụ lao động phục vụ sản xuất, nông nghiệp và chăn nuôi phát triển, con người từ bỏ cuộc sống di động, định cư lại, nên đã xây dựng được thêm các mẫu công trình mới. Tôn giáo đã có mầm mống rõ rệt hoặc đã định hình ở một số khu vực, chế độ xã hội chuyển sang mẫu hệ, không còn sống theo chế độ quần hôn. Do nhu cầu định cư, thôn xóm đã được hình thành, làng mạc được tập trung hơn với những nhà ở nhiều gian, mỗi gian có bếp lò riêng. Nhà có thêm kho và chuông súc vật, chứng tỏ con người đã có sản phẩm dư thừa (nhu cầu tích trữ), chăn nuôi được chú trọng.
Quy hoạch trong kiến trúc của con người thời kỳ này cũng bắt đầu mang tính quy luật cao hơn. Nhà được đặt quanh sân, có nhà chính và nhà phụ, quanh làng có bố trí chướng ngại vật để bảo vệ - hình thức sơ khai của các loại tường chắn và hàng rào ngày nay. Về vật liệu và kết cầu, nhà có tường làm bằng cành cây trát đất, có nơi nền nhà làm bằng cả những tắm đất sét nung, mái nhà đốc. Ngoài nhà đất còn có nhà san trên đất, sàn trên nước.
Các cư dân thời Đồ đá ở Cận Đông, Anatolia, Syria, phía nam bình nguyên Lưỡng Hà và Trung A là những nhà xây dựng vĩ đại. Họ đã biết sử dụng gạch-bùn 10 để xây nhà ở và các ngôi làng. Ở Catalhovuk, người ta đã biết trang trí nhà cửa v những tranh vẽ tạo hình người và thú vật. Các khu mộ tỉ mỉ cũng được xây dựng.
Người thời Đồ đá mới ở quần đảo Anh cũng xây dựng những nắm mô và phòng mộ cho mình, các trại tường dat đắp (causewayed camps), các vòng tròn đá (henges flint mines) và các đài đá lớn hình tròn (cursus monuments) Nhiều làng xóm xuất hiện ở khắp nơi trên trái đất như ở Palestine vào Thiên niên ky IX tr.CN, làng Scara Brey ở Irlanda, Khirotikia đảo Chypre vào Thiên niên ky V.Các cộng đồng làng xóm này mới mở ra và còn lạc hậu nhưng nó là nguồn gốc của đô thị, là sự sơ khởi của những nền văn mình sơ khai cùng với việc phát minh ra chữ viết. Làng xóm Khirokitia, ở dao Chypre ` thiên niên ky V tr.CN, xây bang gạch không nung, đặt trên nên đá He = pS Nha ở trên hồ Nhà ở hồ Neuchatel, Thụy Sĩ 1. Thời kỳ đồ đồng (3 nghìn năm tr. Đến thời đại đồ đồng, công cụ lao động đã có những thay đổi do con người phát minh ra việc nâu chảy kim loại.
Công cụ lao động bằng kim loại cho phép con người có thể khai phá đất hoang, tăng diện tích trồng trọt, xẻ gỗ đóng thuyền, xẻ đá làm nhà, đây mạnh sản xuất. Lực lượng lao động có sự phân hóa, đàn ông làm các công việc nặng nhọc, phụ nữ ở nhà trồng trọt, chăn nuôi do đó chế độ Mẫu hệ chuyển dần sang Phụ hệ. Mầm mống của xã hội nô lệ đã nảy sinh trong lòng chế độ nguyên thủy. Việc phân hóa giàu-nghèo, đưa đến việc hình thành các thành li — nhà ở kiên cố của tang lớp thống trị - công trình có hình dạng hình học han hoi được xây dựng bằng gỗ, cây và đá.
Các cuộc chiến tranh, tranh giành giữa các bộ lạc dẫn đến sự ra đời của nhiều công trình phòng ngự. Con người bắt đầu xây dựng tường thành dé bảo VỆ. Một số loại hình kiến trúc thờ cúng đầu tiên, đáp ứng nhu cầu tỉnh thần của con người nguyên thủy cũng đã ra đời trong giai đoạn này. Đó là các công trình dựng bằng đá : phòng đá, cột đá và lan can đá Phong đá (Dolmen, hay còn gọi là thạch dai, bàn đá) : nghĩa là ngôi mộ nguyên thủy, là nơi mai táng, thờ cúng lãnh chủ và phù thủy lúc bấy giờ.
Đó là những công trình làm bằng hai cột đá lớn dựng đứng, bên trên đặt một tắm đá ngang. Phòng đá ở thời kỳ đầu có kích thước nhỏ, dai không quá 2 mét và cao không quá 1,5 mét. Dan 12 dần được xây bằng các khối đã lớn hơn, đặt cách nhau tới 20 mét và tắm đá lợp nặn; tới hàng chục tan. Việc xây dựng những phòng đá thời nguyên thủy chứng tỏ con người đã biết vận dụng luật cân bằng lực.
Cách xây dựng phòng đá được phỏng đoán là : đầu tiên, người ta dựng hai cột đá đứng, chèn đắp đá nhỏ cho cao bằng mặt đỉnh cột, rồi đặt đòn khiêng, con lăn trượt tâm đã mái lên, ssau đó tháo dg nền đá nhỏ, tháp đòn khiêng va con lăn là xong. Phòng đá được tim thay ở một số nơi như Đức, Thụy Điển, Pháp, Anh. Phòng đá ở Đức, phía trên còn đắp đất như hình thức một ngôi mộ đích thực. hòng đá ở Thụy Điền, ngoài những phòng đá đơn còn có những phòng đá có mặt bằng dài hình chữ nhật hay chữ T, sắp xếp nhiều phiến đá đứng, bên trên có 3-4 đến 7-8 phiến đá lợp.
Cột đá (Menhir hay Monolith) : có kích thước cao thấp khác nhau tùy từng nơi, có cột đá cao tới 20 mét và nặng 300 tấn. Các cột được dựng độc lập, thân cột thường được chạm khắc hình cây cối, người, vật. Có thé mỗi cột đá dé kỷ niệm một người chết, cũng có thé đề tượng trưng cho lòng tin của con người đối với sức mạnh của thiên nhiên. Việc xây dựng cột đá được phỏng đoán : cũng dựa vào sức cân bằng của cột đá và lực kéo, người ta day đá đến những cái hố được đào sẵn, buộc dây vào đầu cột đá và kéo dân lên, sau đó có định chân cột.
Ở vùng Carnac (Bretagne, Pháp) vẫn còn di tích của 3.000 cột đá xếp thành nhiều dãy, dài tới 3 km (theo phỏng đoán có thẻ có tới 10. Ở một số vùng ở Anh và Pháp vẫn còn giứ được di chỉ về cột đá. Lan can đá (Cromlech, còn gọi là thạch hoàn) : là những vòng tròn hoặc những vòng tròn đồng tâm, dựng nên bởi những cột đá, trên lợp các tâm đã dài tạo thành nhứng vòng khép kín. Lan ca đá dùng để cúng ma thuật.
Ở giữa vòng tròn đá là một tâm đã dùng để đặt vật hy sinh cho lễ cúng. 13 Lan can đá nổi tiếng nhất trong lịch sử kiến trúc là lan can đá Salisbury Stonehenge, nước Anh. Đây là di tích hoàn chỉnh về công trình sơ khai của loại kết cấu đá này.