Chương 1: ĐỊNH MỨC LAO ĐỘNG Giới thiệu: Chương này sẽ cung cấp những thông tin cơ bản nhất về mức lao động, các phương pháp xây dựng mức lao động, các phương pháp khảo sát thời gian làm việc của người lao động. Từ đó xác định được mức lao động, làm cơ sở để xác định đơn giá tiền lương, chi phí lương trong doanh nghiệp. Mục tiêu: - Trình bày khái niệm và các loại mức lao động. - Trình bày được các phương pháp xây dựng mức lao động.
- Xác định được mức lao động - Khảo sát được thời gian làm việc của người lao động trong ca làm việc. Nội dung chính: 1. Khái niệm và các hình thức biểu hiện 1. Khái niệm: - Mức lao động: là lượng lao động hao phí được quy định để hoàn thành một đơn vị sản phểm (hoặc khối lượng công việc) đúng tiêu chuẩn chất lượng, trong những điều kiện tổ chức kỹ thuật nhất định.
- Để có được mức lao động giao cho người lao động thực hiện phải dựa trên cơ sở, quá trình xây dựng, xét duyệt, ban hành áp dụng, quản lý thực hiện, sửa đổi mức không phù hợp với thực tiễn và dự tính áp dụng vào sản xuất những biện pháp tổ chức kỹ thuật có năng suất cao. Quá trình đó gọi là công tác định mức lao động. Các hình thức biểu hiện 1.Mức thời gian (Mtg). Mức thời gian là lượng thời gian hao phí cần thiết được quy định cho một hay một nhóm người lao động có trình độ nghiệp thích hợp để hoàn thành một đơn vị sản phẩm (hoặc một khối lượng công việc) đúng tiêu chuẩn chất lượng trong những điều kiện tổ chức – kỹ thuật nhất định.
Đơn vị đo mức thời gian là giây, phút, giờ trên đơn vị sản phẩm. Người lao động làm quá lượng thời gian đã quy định là không hoàn thành mức lao động.Mức sản lượng (MSL) Mức sản lượng là số lượng đơn vị sản phẩm ( hoặc khối lượng công việc) quy định cho một hay một nhóm người lao động có trình độ nghiệp vụ thích hợp phải hoàn thành trong một đơn vị thời gian đúng tiêu chuẩn chất lượng trong những điều kiện tổ chức – kỹ thuật nhất định. Đơn vị đo mức sản lượng là đơn vị sản phẩm trên đơn vị thời gian (phút, giờ, ca) người lao động làm được nhiều hơn số lượng đơn vị sản phẩm quy định là hoàn thành vượt mức lao động. 9 Mức sản lượng thường được xác định trên cơ sở mức thời gian và dùng công thức: T M SL = M tg Trong đó T là đơn vị thời gian tính trong mức sản lượng (1giờ hay 1 ca = 8 tiếng) Như vậy mức sản lượng và mức thời gian là hai đại lượng tỷ lệ nghịch với nhau.Mức phục vụ (Mpv) Mức phục vụ là số lượng nơi làm việc, đơn vị thiết bị, diện tích sản xuất.
trong doanh nghiệp quy định cho một hay một nhóm người lao động có trình độ nghiệp vụ thích hợp phải phục vụ trong những điều kiện tổ chức kỹ thuạt nhất định, công việc ổn định và lặp lại có chu kỳ. Đơn vị đo mức phục vụ là số đơn vị đối tượng phục vụ trên một hay một nhóm người lao động. Mức phục vụ thường được xác định trên cơ sở mức thời gian phục vụ. Mức thời gian phục vụ là đại lượng thời gian quy định để thực hiện một đơn vị phục vụ trong những điều kiện tổ chức – kỹ thuật nhất định.
Mức phục vụ được xác định để giao cho những người lao động phục vụ sản xuất mà kết quả không đo được bằng những đơn vị đo của mức sản lượng .Mức biên chế (Mbc) hay còn gọi là mức định biên. Mức biên chế là số lượng người lao động có trình độ nghiệp vụ thích hợp được quy định chặt chẽ để thực hiện một khối lượng công việc cụ thể trong những điều kiện tổ chức kỹ thuật nhất định. Đơn vị đo của mức biên chế là người trên công việc. Mức này được áp dụng trong điều kiện công việc đòi hỏi hoạt động phối hợp của nhiều người làm kết quả không tách riêng được cho từng người, không thể xác định được mức thời gian, mức sản lượng, mức phục vụ.Phân loại hao phí thời gian làm việc của công nhân.Mục đích - Xác định những hao phí thời gian có ích để định mức lao động.
Đồng thời phát hiện các thời gian lãng phí và nguyên nhân gây ra để tìm biện pháp khắc phục. - Nghiên cứu và phổ biến rộng rãi các phương pháp làm việc của những công nhân tiên tiến cho toàn bộ công nhân cùng thực hiện và tìm ra hình thức tổ chức lao động hợp lý nhất. Căn cứ để phân loại hao phí thời gian làm việc của công nhân. - Khái niệm và đặc điểm của các loại hao phí thời gian, có nắm chắc các khái niệm và đặc điểm của các loại hao phí thời gian chúng ta mới có thể xác định được mỗi hao phí thời gian trong quá trình lao động của công nhân thuộc loại nào.
- Điều kiện tổ chức kỹ thuật cụ thể đã quy định ở nơi làm việc. Có dựa vào điều kiện tổ chức kỹ thuật cụ thể ở nơi làm việc ta mới xác định được những hao phí thời gian của công nhân làm việc có thuộc nhiệm vụ sản xuất của họ không. - Thời điểm xuất hiện của hao phí thời gian trong ca làm việc. - Nguyên nhân gây ra mỗi hao phí thời gian giúp ta phân loại được chính xác.Phân loại hao phí thời gian làm việc trong ngày (ca) của người lao động.
Việc nghiên cứu một cách có hệ thống và phân loại các hao phí thời gian làm việc của người lao động trong quá trình lao động nhằm mục đích xác định những hao phí thời gian có ích để định mức kỹ thuật lao động, cũng như thời gian lãng phí và nguyên nhân gây ra để có biện pháp khắc phục. Đồng thời nghiên cứu phương pháp làm việc của những người lao động tiên tiến để phổ biến và áp dụng rộng rãi cho tập thể người lao động và tìm ra hình thức, phương pháp làm việc có hiệu quả. Trong lao động sản xuất, thời gian làm việc trong ngày của người lao động được ký hiệu là Tca, được chia ra: thời gian cần thiết để hoàn thành nhiệm vụ sản xuất, công tác còn gọi là thời gian được định mức – ký hiệu là TĐM và thời gian lãng phí còn gọi là thời gian không được định mức ký hiệu TDM .Thời gian được định mức TĐM. Thời gian được định mức bao gồm: thời gian chuẩn kết, thời gian tác nghiệp, thời gian phục vụ, thời gian nghỉ ngơi và nhu cầu tự nhiên, thời gian công nghệ.
a/Thời gian chuẩn kết – TCK. Thời gian chuẩn kết là thời gian người lao động dùng vào việc chuẩn bị phương tiện sản xuất, công tác để thực hiện khối lượng công việc được giao và tiến hành mọi hoạt động có liên quan đến việc hoàn thành khối lượng công việc đó. Thời gian chuẩn kết chỉ xảy ra khi bắt đầu và kết thúc công việc, chỉ hao phí một lần cho cả loạt sản phẩm sản xuất, không phụ thuộc và số lượng sản phẩm của loạt và thời gian của ca làm việc. Tỷ trọng thời gian chuẩn kết trong toàn bộ thời gian hoàn thành nhiệm vụ sản xuất, công tác lớn hay nhỏ phụ thuộc vào loại hình sản xuất, tổ chức lao động, đặc tính của máy móc, thiết bị và quy trình công nghệ của bước công việc cần định mức kỹ thuật lao động.
Muốn xác định lượng thời gian chuẩn kết có thể căn cứ vào các tài liệu tiêu chuẩn định mức kỹ thuật lao động hoặc chụp ảnh quá trình làm việc của người lao động. b/Thời gian tác nghiệp – TTN. Thời gian tác nghiệp là thời gian trực tiếp hoàn thành bước công việc và được lặp đi lặp lại qua từng sản phẩm hoặc một số sản phẩm nhất định. Nếu bước công việc được hoàn thành bằng máy thời gian tác nghiệp được chia ra thời gian chính và thời gian phụ.
Thời gian chính (TC) còn gọi là thời gian công nghệ là thời gian biến đổi đối tượng lao động về mặt chất lượng: hình dáng, kích thước, tính chất lý hoá… Thời gian chính có thể là thời gian làm bằng tay, bằng máy hoặc vừa bằng tay vừa máy. Trong các bước công việc được cơ giới hoá thời gian chính phần lớn là thời gian máy chạy. (TM) Thời gian phụ (TP) là thời gian người lao động thực hiện những thao tác phụ, tạo điều kiện hoàn thành thao tác chính. Nó được lặp lại khi gia công từng sản phẩm hoặc một số sản phẩm nhất định.
Thời gian phụ phần nhiều là thời gian làm việc bằng tay. Thời gian tác nghiệp chịu ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố: đối tượng lao động, mức độ phức tạp của công việc, đặc điểm thiết bị, dụng cụ, trình độ tay nghề của người lao động. Khi định mức lao động thời gian tác nghiệp đối với mỗi sản phẩm càng ngắn càng tốt. Nhưng tỷ trọng thời gian tác nghiệp trong ca càng lớn càng tốt.Trong thời gian tác 11 nghiệp thì tỷ trọng của thời gian phụ càng nhỏ càng tốt.
Như vậy năng suất lao động mới không ngừng nâng cao. Thời gian tác nghiệp được xác định trên cơ sở tài liệu tiêu chuẩn định mức kỹ thuật lao động hoặc bấm giờ. c/Thời gian phục vụ nơi làm việc TPV. Thời gian phục vụ nơi làm việc là thời gian hao phí để trông coi và bảo đảm cho nơi làm việc hoạt động liên tục trong suốt ca làm việc.
Trong quá trình sản xuất bằng máy, thời gian phục vụ có thể được chia ra thời gian phục vụ kỹ thuật và thời gian phục vụ tổ chức. Thời gian phục vụ kỹ thuật TPVK là thời gian hao phí để làm các công việc phục vụ có tính chất kỹ thuật, nhằm duy trì khả năng làm việc bình thường của máy móc, thiết bị. Thời gian phục vụ tổ chức – TPVT là thời gian hao phí để làm các công việc phụ vụ có tính chất tổ chức nhằm duy trì trật tự, vệ sinh và hợp lý hoá nơi làm việc. Thời gian phục vụ chịu ảnh hưởng bởi các nhân tố: tổ chức và phục vụ nơi làm việc, chất lượng của máy móc, dụng cụ, thiết bị…Muốn xác định thời gian phục vụ nơi làm việc có thể sử dụng các tài liệu tiêu chuẩn định mức kỹ thuật lao động hoặc chụp ảnh thời gian làm việc của người lao động trong ca.
d/Thời gian nghỉ ngơi và nhu cầu tự nhiên của người lao động trong ca TNN. Thời gian nghỉ ngơi và nhu cầu tự nhiên là thời gian cần thiết để duy trì khả năng làm việc bình thường của người lao động trong ca làm việc.