chương I da dé cap, kinh tế học hiện đại nghiên cứu hành vi con người cũng như mối quan hệ giữa nhu cầu và nguồn lực khan hiếm, cùng các giải pháp chọn lựa cách sử dụng; trong đó, sự khan hiếm nguồn lực có nghĩa là tài nguyên không đủ để thỏa mãn tất cả mọi ước muốn và nhu cầu của mọi người. Không có sự khan hiếm và các cách sử dụng nguồn lực thay thế nhau thì sẽ không có vấn đề kinh tế nào cả. Dưa thời gian vào mục các nguồn lực vì tính khan hiếm của thời gian và giải pháp chọn lựa cách sử dụng thời gian luôn luôn là vấn đề phải giải quyết. Ví dụ: Trong kinh tế, nói đến năng suất lao động là số sản phẩm trong 1 đơn vị thời gian; trong giáo dục là mâu thuẫn cung - cầu giáo dục: cung = thời gian 1 tiết học/ 1 khóa học không thể kéo dài vô tận mâu thuẫn với cầu = cần nhiều kiến thức dẫn đến việc phải lựa chọn giải pháp cung = cố gắng dạy thật nhiều kiến thức hay cung = dạy kiến thức cơ bản và kĩ năng tự học, tự nghiên cứu.
Đặc điểm của nguồn lực thời gian là luôn song hành, cùng tổn tại với các nguồn lực khác. - Nguồn nhân lực: gắn với vòng đời, tuổi thọ, tuổi lao động, tuổi nghỉ hưu. Mỗi cá nhân trong cuộc đời của mình đều phải giải quyết vấn đề: chi phí thời gian có hạn cho những mục tiêu vô hạn: học, làm việc, tái sản xuất sức lao động cho bản thân và cho xã hội, thụ hưởng cuộc sống, chăm sóc gia đình. - Nguồn vật lực: Sự phát triển mạnh mẽ khoa học, kĩ thuật công nghệ dẫn đến tốc độ đổi mới công nghệ rất nhanh chóng.
Thời gian khấu hao, vòng đời của một sản phẩm, một công nghệ từ lúc nảy sinh, phát triển, chín muỗi đến tiêu vong ngày càng rút ngắn. Trước đây, vòng đời công nghệ tính bằng nhiều thập kỉ, ngày nay tính bằng năm, thậm chí tính bằng tháng. - Nguồn lực tài chính: thời hạn, năm tài chính, thời hạn vay, lãi suất theo tháng/ quý/ năm. ~ Nguồn lực thông tin: tốc độ truyền dẫn, tốc độ ra đời, lạc hậu.
Xu hướng phát triển như vũ bão của khoa học, kĩ thuật và công nghệ hiện nay đã dẫn đến hiện tượng “bùng nổ” thông tin. Theo ước tính của các nhà khoa học, chỉ cần 3 - 4 năm, khối lượng kiến thức của nhân loại sẽ tăng gấp đôi. Điều này cũng đồng nghĩa với “chu kì bán rã thông tin” đã rút ngắn chỉ còn khoảng 3 - 4 năm, đặc biệt đối với khối kiến thức khoa học xã hội và nhân văn, tốc độ này còn lớn hơn nữa. ˆ - Nguồn lực thời gian trong thực tế luôn được quan tâm thể hiện ở các chương trình, chiến lược, các kế hoạch dài hạn, trung hạn, ngắn hạn ở cấp độ 110 toàn cầu, cấp độ từng quốc gia, ở các cấp địa phương (bang, tỉnh, thành, quận, huyện.), các ngành, các cơ sở sản xuất kinh doanh, các cơ sở giáo dục.
Trong những kĩ năng được đề xuất cần giáo dục cho trẻ em trong thời đại ngày nay có kỉ năng quản lí thời gian. Mục tiêu Phát triển Thiên niên ki 2001 -2015 mà Liên hợp quốc để xướng và .được 189 quốc gia, lãnh thổ cam kết thực hiện là ví dụ cho một chương trình toàn cầu trong giai đoạn 2001 - 2015'. Ở nhiều quốc gia thường xây dựng .các Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội trong 10 năm; Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội dài hạn trong 5 năm, trung hạn 3 năm, ngắn hạn là kế hoạch ¡hàng năm. Thời gian của một nhiệm kì Tổng thống, Thủ tướng, số nhiệm kì được 'ái cử tại một số quốc gia cũng là một biểu hiện về yếu tố nguồn lực thời gian, về ¡mức độ khan hiếm, về sự cần thiết khống chế, kiểm soát của nguồn lực này.
Nguồn lực phát triển giáo duc Bao gồm: nguồn lực của các trường học và nguôn lực của bộ máy quản lí, +điểu hành hoạt động giáo dục các cấp, từ cấp bộ đến các sở, phòng giáo dục. Nguồn lực phát triển giáo dục là tập hợp các yếu tố mà ngành giáo dục/các trường sử dụng để thực hiện mục tiêu của mình, bao gồm: :2. Nguồn nhân lực Nguồn nhân lực của ngành giáo dục/các trường là lực lượng giáo viên, cán Ibộ, nhân viên với năng lực chuyên môn của từng người tham gia vào các hoạt cđộng của ngành giáo dục/các nhà trường. Nhân lực là nguồn lực quan trọng nhất, là vốn quý nhất để phát triển ngành tgiáo dục/các nhà trường.
Tập họp, tạo cơ hội cho mọi thành viên của ngành tgiáo dục/các trường phát huy hết khả năng cho hoạt động của ngành giáo cdục/các trường là huy động được nguôn lực lớn nhất cho sự phát triển của mngành giáo dục/các nhà trường. Nguồn lực tài chính Xét ở khía cạnh cơ chế điều hành khác nhau, nguồn tài chính cho ngành ggido dục/các trường bao gồm: ! Bộ Kế hoạch - Đầu tư, Liên hợp quốc tại Việt Nam, Báo cáo Mục tiêu Phát triển Thiên niên kki 2008. Việt Nam tiếp tục thực hiện Mục tiêu Thiên niên kỉ, Hà Nội, 2008. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Báo cáo Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỉ 2010.
Wigt Nam 2/3 chặng đường thực hiện Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỉ, hướng tới năm 2015, Hà Nội, tháng 8 năm 2010. 11 Ngân sách nhà nước: là toàn bộ các khoản thu, chỉ trong dự toán đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và giao thực hiện để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của ngành giáo dục/các nhà trường. Nguồn tài chính ngoài ngân sách nhà nước: là tất cả những yếu tố về nguồn vốn tiền tệ mà Nhà nước cho phép ngành giáo dục/các trường được huy động trực tiếp trong khuôn khổ thực hiện xã hội hoá nhằm đảm bảo nguồn tài chính cho trường và được sử dụng theo chế độ quy định để thực hiện mục tiêu của nhà trường. Nguồn lực vật chất Nguồn lực vật chất của ngành giáo dục/các trường học là toàn bộ cơ sở vật chất trường học với tất cả các phương tiện vật chất được sử dụng để thực hiện mục tiêu của ngành giáo dục/các nhà trường, bao gồm: đất đai, nhà cửa, tài san, trang thiết bị, công cụ, dụng cụ.
(hữu hình) và phần mềm, bản quyển sáng chế phát minh, danh tiếng, uy tín. (vô hình) của ngành giáo dục/các nhà trường. Cốt lõi của cơ sở vật chất trường học chính là các thiết bị day hoc. Cơ sở vật chất quyết định năng suất lao động và hiệu quả các hoạt động của ngành giáo dục/các trường học.
Nguồn lực thông tin Nguồn lực thông tin là những dữ liệu đã được phân tích và xử lí để phục vụ cho việc ra quyết định hoặc giải quyết các nhiệm vụ nhằm phát triển ngành giáo dục/ các nhà trường. Hệ thống thông tin được tổ chức khoa học sẽ làm thay đổi cách thức hoạt động của ngành giáo dục/các nhà trường, làm cho cơ cấu của ngành giáo dục/các trường trở nên tỉnh giản, linh hoạt và giúp cho việc truy tìm thông tin cần thiết trong khoảng thời gian và chi phí hợp lí. Thông tin và hệ thống thông tin rất quan trọng đối với ngành giáo dục/các nhà trường. Có thể nói: “Nếu coi ngành giáo dục/các trường như một cơ thể sống thì thông tin là máu và hệ thống đảm bảo thông tin hai chiều là hệ thần kinh của nó”.
Thông tin vừa là yếu tố đầu vào không thể thiếu được đối với ngành giáo dục/các trường, vừa là nguồn dự trữ tiềm năng cho ngành giáo dục! các nhà trường. Nguồn lực thời gian Chiến lược phát triển giáo dục 2001 - 2010, 2011 - 2020 là những ví dụ vẻ phân bổ nguồn lực thời gian dài hạn, trong khi đó các kế hoạch năm học, 112 kế hoạch học kì, tháng, tuần là những ví dụ về phân bố nguồn lực thời gian ngắn hạn trong giáo dục. Bên cạnh kiến thức từng môn ngày càng nhiều, dẫn đến máu thuẫn cung cầu về thời gian và kiến thức như trên đã đề cập, còn có nhu cầu tăng thời gian học dể giải quyết nhu cầu về kiến thức của những môn mới, nhu cau vé kĩ năng mềm, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng sống. Giải quyết những nhu câu này bằng cách lồng ghép hay tách thành các môn riêng cũng bị chỉ phối bởi sự khan hiếm về nguồn lực thời gian, đòi hỏi sự lựa chọn giải pháp của ngành giáo dục.
Như vậy trong ngành giáo dục, nguồn lực thời gian cần được nghiên cứu và đưa ra sự lựa chọn về: ~ Dộ dài của cấp học, bậc học, chương trình giáo dục. ~ Độ dài giáo dục phổ cập miễn phí. - Số tháng của năm học, độ dài kì nghỉ hè, số giờ dạy trong một tuần, một môn. - Số buổi học: 1 buổi hay 2 buổi, hoạt động ngoài giờ lên lớp; cấp học; hệ đào tạo.
Sự lựa chọn này không chỉ chi phối, ảnh hưởng tới việc phân bổ, sử dụng các nguôn lực khác của gia đình, của cá nhân người học, tới nguồn lực của nhà trường, cộng đồng, xã hội mà còn ảnh hưởng rất lớn tới sức khỏe, tâm lí. của người học. Về mặt lí thuyết thì tăng số giờ học, buổi học ở trường sẽ nâng cao chất lượng giáo dục nên phần lớn các quốc gia đều nỗ lực để tăng số giờ học, buổi học ở trường, ít nhất là cho giáo dục tiểu học. Nhưng thực tế tại một số vùng nông thôn Việt Nam thì cha mẹ học sinh không đông tình với việc tăng số giờ học, buổi học ở trường vì sẽ không có người đi làm thêm hay phụ việc gia đình.
Một số cán bộ quản lí giáo dục, giáo viên cho biết: Học sinh học 2 buổi/ ngày lờ đờ, thiếu năng động, thiếu linh hoạt hơn học 1 buổi/ ngày. Tỉ lệ học sinh thành thị cong vẹo cột sống, mắt bị cận, loạn thị, bị trầm cảm,. có xu hướng tăng với nhiều nguyên nhân, trong đó có việc dạy theo kiểu cung cấp kiến thức sách vở, thiếu tổ chức hoạt động trong điều kiện đã tổ chức học 2 buổi/ngày. Nhìn từ góc độ chỉ phí, giá thành đào tạo: đối với hệ phổ thông độ dài 12 năm hay 11 năm là một câu hỏi đã được thảo luận từ lâu.