Chương I KHÁI QUÁT VỂ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ 1. Thông tin của kế toán với hoạt động quản lý tổ chức 1. Khái quát về tổ chức doanh nghiệp 1. Khái niệm về tổ chức Một tổ chức có thể được hiểu như là một nhóm người liên kết với nhau để thực hiện một hay một số mục tiêu chung nào đó.
Ví dụ: một doanh nghiệp là một tổ chức, vì nó bao gồm các thành viên cùng góp vốn và liên kết với nhau để thực hiện một mục tiêu chung là tìm kiếm lợi nhuận; một trường học là một tổ chức, vì nó bao gồm các thành viên liên kết với nhau để cùng thực hiện mục tiêu giáo dục và đào tạo. Như vậy khi nói đến một tổ chức, phải hiểu là bao -gồm những con người chứ không phải là của cải vật chất của tổ chức. Trong xã hội có rất nhiều tổ chức hoạt động với mục tiêu khác nhau. Căn cứ vào mục tiêu hoạt động cơ bản, các tổ chức trong xã hội có thể được phân thành 3 nhóm sau: - Các tổ chức hành chính sự nghiệp: là những tổ chức hoạt động vì mục tiêu thực hiện chức năng quản lý nhà nước và vì sự phát triển chung của toàn xã hội.
Thuộc loại hình tổ chức này là các cơ quan hành chính sự nghiệp thuộc sở hữu nhà nước, hoạt động bằng kinh phí của nhà nước và do nhà nước quản lý như các Bộ, các Sở, các trường phổ thông, đại học công lập, tổ chức quân đội, công an. - Các tổ chức doanh nghiệp (DN): là những tổ chức hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận. Thuộc loại hình tổ chức này bao gồm tất cả các DN thuộc mọi thành phần kinh tế: DN nhà nước, Công ty cổ phần, Công ty TNHH, DN tư nhân. 5 - Các tổ chức xã hội: là các tổ chức hoạt động vì mục tiêu phục vụ cộng đồng như các hội (Hội chữ thập đỏ, Hội người mù.), các câu lạc bộ.
các tổ chức phi chính phủ. Mỗi nhóm bao gồm nhiều tổ chức khác nhau. Mỗi lổ chức khác nhau sẽ có những mục tiêu cụ thể khác nhau, nhưng hầu hết các tổ chức đều có một số đặc điểm chung sau: - Mỗi tổ chức sẽ có một hoặc nhiều mục tiêu hoạt động. - Mỗi tổ chức đều phải xây dựng kế hoạch chiến lược nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra.
- Mỗi tổ chức sẽ có 1 hoặc một nhóm người quản lý để đề ra kế hoạch, tổ chức, điều hành thực hiện kế hoạch, kiểm tra đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch và đề ra các quyết định ngắn hạn, dài hạn cho hoạt động của tổ chức. - Mỗi tổ chức đều có một cấu trúc tổ chức, trong đó chỉ rõ nhiệm vụ của từng bộ phận và mối liên hệ trách nhiệm giữa các nhà quản lý bộ phận. - Mỗi tổ chức đều có một nhu cầu lớn về thông tin để giúp cho việc thực hiện các chiến lược của mình. Do những đặc điểm giống nhau cơ bản trên đây nên những vấn đề nghiên cứu trong môn học này có thể sẽ được áp dụng trong các tổ chức, mặc dù mục đích của môn học kế toán quản trị là cung cấp những vấn đề thuộc về bản chất và cách sử dụng các số liệu kế toán quản trị trong loại hình tổ chức DN.
Tuy nhiên, không phải mọi vấn đề đều phù hợp, các nhà quản lý của các loại hình tổ chức khác (không phải là DN) có thể lựa chọn những vấn đề phù hợp với tổ chức mình để sử dụng. Các mục tiêu hoạt động của tổ chức doanh nghiệp Bất kỳ một tổ chức doanh nghiệp nào, để hình thành và phát triển đều phải thực hiện các hoạt động cơ bản sau: 6 * Xác đinh mục tiêu: Hầu hết các doanh nghiệp đều có mục tiêu chính là hoạt động kinh doanh nhằm mục đích thu lợi nhuận. Ngoài mục tiêu chính là lợi nhuận, các doanh nghiệp còn có thể quan tâm đến các mục tiêu khác như uy tín về chất lượng sản phẩm, dịch vụ; về sự làm ãn chân chính và liêm khiết, mục tiêu chính trị (phải đạt một vị trí nhất định trong xã hội và môi trường kinh doanh). Các mục tiêu mà DN đã xác định sẽ là cưomg lĩnh cho quấ trình hoạt động của doanh nghiệp.
Để thực hiện các mục tiêu đã định, các tổ chức doanh nghiệp thường phải chọn ra và uỷ thác cho một nhóm người có quyền lực và có trách nhiệm tổ chức, điều hành, giám sát việc thực hiện các mục tiêu. Đó chính là các nhà quản trị doanh nghiệp. * Xác định kế hoạch chiến lược: Việc xác định phương thức hoạt động của doanh nghiệp, nhằm thực hiện các mục tiêu cơ bản lâu dài gọi là lập kế hoạch chiến lược.Trong mọi tổ chức doanh nghiệp, việc xác định kế hoạch chiến lược thường được thực hiện qua 2 giai đoạn: * Xác định chiến lược sản xuất - Xác định sản phẩm sản xuất, kinh doanh hoặc dịch vụ cung cấp. Ớ giai đoạn này, ban quản lý doanh nghiệp cần phải xác định chiến lược về lĩnh vực hoạt động (sản xuất, kinh doanh thuơng mại hay cung cấp dịch vụ.
Sau đó, cần phải xác định chiến lược về mặt hàng kinh doanh (sản xuất sản phẩm gì, kinh doanh loại hàng hoá nào. - Xác định chiến lược tiếp thị: là việc xác định thị trường và phương thức thực hiện để đưa sản phẩm, dịch vụ đến người tiêu dùng. Các chiến lược được xem như đường lối hoạt động của tổ chức doanh nghiệp, nó là cơ sở. là kim chỉ nam để điều hành mọi hoạt động của tổ chức và xác định nhu cầu về các thõng tin kế toán.
7 * Thực hiện kế hoạch nhằm đạt được mục tiêu đa xúc định: Trên cơ sở mục tiêu đã xác định và kế hoạch chiến lược đã xây dựng các nhà quản trị DN phải liên kết, huy động các nguồn lực tổ chức điều hành hoạt động kinh doanh của DN nhằm đạt được mục tiêu. Thông tin kế toán với hoạt động quản lý tổ chức Hạch toán kế toán là một bộ phận cấu thành quan trọng của hệ thống công cụ quản lý kinh tế, tài chính, có vai trò tích cực trong việc quản lý, điều hành và kiểm soát các hoạt động kinh tế. Với tư cách là công cụ quản lý kinh tế, tài chính, kế toán là một lĩnh vực gắn liền với hoạt động kinh tế, tài chính, đảm nhiệm hệ thống tổ chức thông tin có ích cho các quyết định kinh tế. Vì vậy, kế toán có vai trò đặc biệt quan trọng không chỉ với hoạt động tài chính nhà nước, mà còn vô cùng cần thiết và quan trọng với hoạt động tài chính doanh nghiệp.
Chức năng của kế toán là cung cấp những thông tin hữu ích về kinh tế, tài chính của một tổ chức cho các đối tượng cần sử dụng thông tin kế toán trong xã hội - các nhà quản lý. Để thông tin được đưa ra dưới dạng hữu ích, kế toán phải tổ chức thu nhận thông tin, xử lý thông tin đã thu nhận và tổng hợp chúng thành những báo cáo kế toán đáp ứng cho nhu cầu của người sử dụng thông tin. Tất cả các tổ chức và cá nhân có lợi -ích trực tiếp hoặc gián tiếp ở DN đều có nhu cầu sử dụng thông tin kế toán của DN. Xét theo phạm vi DN, các đối tượng cần sử dụng thông tin kế toán của DN được chia thành 2 loại: các đối tượng bên ngoài DN (Cơ quan quản lý nhà nước, khách hàng, nhà cung cấp, ngân hàng và các chủ nợ, nhà đầu tư.
) và các đối tượng bên trong DN (các nhà quán trị các cấp trong DN). Hai loại đối tượng trên có nhu cầu khác nhau về thông tin kế toán của DN. Các đối tượng bên ngoài DN cần thông 8 tin tổng thể về tài sản và tình hình, kết quả hoạt động kinh doanh của toàn DN, các nhà quản trị DN lại cần thông tin chi tiết về tình hình và kết quả hoạt động kinh doanh của từng bộ phận, từng loại hoạt động trong DN. Xuất phát từ nhu cầu về thông tin kế toán của 2 loại đối tượng khác nhau đó mà hệ thống kế toán doanh nghiệp được chia thành : Kế toán tài chính (KTTC) và Kế toán quản trị (KTQT).
KTTC liên quan đến quá trình cung cấp thông tin về tình hình kinh tế, tài chính của toàn doanh nghiệp (coi doanh nghiệp như một thực thể thống nhất) cho các tổ chức, cá nhân bên ngoài doanh nghiệp qua hệ thống báo cáo tài chính định kỳ: Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ, Thuyết minh báo cáo tài chính. KTQT cung cấp thông tin thoả mãn nhu cầu của các nhà quản trị trong doanh nghiệp, nhằm giúp các nhà quản trị các cấp trong doanh nghiệp thực hiện các chức năng quản trị : lập kế hoạch; tổ chức, điều hành; kiểm tra và ra quyết định. Do đó thông tin của KTQT cung cấp liên quan đến việc báo cáo hoạt động kinh tế của từng bộ phận, từng loại hoạt động trong doanh nghiệp và không chỉ là những thông tin liên quan đến hoạt động kinh tế của doanh nghiệp trong quá khứ mà còn cung cấp thông tin liên quan đến hoạt động kinh tế của doanh nghiệp trong tưong lai. Bản chất của kê toán quản trị 1.
Khái niệm về kê toán quản trị Như đã phân tích ở phần trên, KTQT là một bộ phận của hệ thống kế toán doanh nghiệp, có chức năng thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin thoả mãn nhu cầu của các nhà quản trị doanh nghiệp, là những người mà các quyết định và hành động của họ có liên quan trực tiếp đến sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp. 9 Như vậy, nếu thông tin không chi tiết, không đầy đủ các nhà quản trị sẽ gặp khó khãn trong việc quản lý điều hành hoạt động của doanh nghiệp. Nếu thông tin không chính xác, các nhà quản trị có thể đưa ra các quyết định saj lầm ảnh hưởng đến quá trình tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Và nếu thông tin không được đáp ứng kịp thời thì các vấn đề tồn tại sẽ chậm được khắc phục và có thể sẽ mất cơ hội trong kinh doanh.
Có thể nói, KTQT có một vai trò quan trọng, cần thiết, không thể thiếu được đối với công tác quản trị doanh nghiệp. Đến nay, có nhiều khái niệm khác nhau về KTQT: Theo giáo sư, tiến sỹ Ronald, w.Hilton thuộc trường Đại học Cornell - Mỹ thì: “KTQT là một bộ phận của hệ thống thông tin quản trị trong các tổ chức, mà nhà quản trị dựa vào đó để hoạch định và kiểm soát các hoạt động của tổ chức” Theo các giáo sư, tiến sỹ: Jack.Keith và William.