chương 1, 2, và 3. Phạm Thành Long, giảng viên Khoa Kế toán - Đại học Kinh tế Quốc dân, biên soạn các chương 4 và 7. Nguyễn Hoản, Phụ trách Khoa Kinh tế - Đại học Tài nguyên và Môi trường, biên soạn các chương 5. Nguyễn Thị Minh Phương, giảng viên Khoa Kế toán - Đại học Kinh tế Quốc dân, biên soạn chương 6.
: Việc hoàn thành cuốn sách này là sự cố gắng của tập thể giáo viên và các chuyên gia kế toán ở các trường đại học. Tuy nhiên, trong lần đầu xuất bản cuốn sách không thẻ tránh khỏi những khiếm khuyết, các tác giả mong nhận được sự đóng góp ý kiến của bạn đọc gần xa để lần xuất bản tiếp theo cuốn sách được hoàn thiện hơn. Mọi ý kiến góp ý xin gửi về: Ban biên tập sách Dạy nghề - Công ty Cổ phần Sách Đại học - Dạy nghé, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, 25 Hàn Thuyên, Hà Nội. _ Xin chân thành cảm ơn! Thay mặt các tác giả PGS.
Nguyễn Ngọc Quang v TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN TRONG ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH SỰ NGHIỆP 1. KHÁI NIỆM VÀ PHẦN LOẠI ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH SỰ NGHIỆP 1. Khái niệm đơn vị hành chính sự nghiệp Đơn vị hành chính sự nghiệp là một tổ chức hoạt động theo các nhiệm vụ được Nhà nước giao phó bằng nguồn kinh phí ngân sách cấp và kinh phí thu tại chỗ từ các hoạt động được giao. Khái niệm về đơn vị hành chính sự nghiệp thường được quy định theo cơ quan có thâm quyển phê duyệt.
Song theo xu hướng phát triển của nền kinh tế thị trường, đơn vị hành chính sự nghiệp thường chia thành hai dạng: Đơn vị hành chính sự nghiệp thuần túy hoạt động chỉ bằng nguồn kinh phí ngân sách nhà nước và đơn vị hành chính sự nghiệp có thu hoạt động bằng nhiều nguồn kinh phí khác nhau. Các đơn vị hành chính sự nghiệp có thu phải tự chủ về mặt tài chính, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy biên chế hoạt động. Đơn vị hành chính sự nghiệp có thu được _ xác định bởi các tiêu thức sau: — Là các đơn vị do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập, hoạt động cung cấp dịch vụ công trong các lĩnh vực giáo dục, môi trường, ÿ tế, văn hóa, thể dục thê thao, sự nghiệp kinh tế, dịch vụ việc làm. — Được Nhà nước đầu tư cơ sở vật chất, đảm bảo một phần hoặc toàn bộ kinh phí hoạt động thường xuyên để thực hiện các nhiệm vụ chính trị, chuyên môn được giao.
— Đơn vị hành chính sự nghiệp được Nhà nước cho phép thu một số loại phí, lệ phí, trong quá trình hoạt động để thực hiện nhiệm vụ, bù đắp chỉ phí hoạt động, tăng thu nhập cho cán bộ, viên chức. — Đơn vị hành chính sự nghiệp có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng, tô chức bộ máy kế toán theo quy định của Luật Kế toán. Phân loại đơn vị hành chính sự nghiệp Đơn vị hành chính sự nghiệp rất phong phú và đa đạng, có thể được phân chia theo các tiêu thức sau: Theo sự phân cấp quản lý ngành dọc, từ Trung ương tới địa phương có thể chia thành: Các đơn vị hành chính sự nghiệp cấp 1 (đơn vị dự toán cấp 1) thuộc các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan trực thuộc Chính phủ, cơ quan trực thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, các cơ quan đoàn thể, các tổ chức xã hội do Trung ương, địa phương quản lý. Các đơn vị hành chính sự nghiệp cấp 2 (đơn vị dự toán cấp 2), trực thuộc các đơn vị hành chính sự nghiệp cấp 1.
Các đơn vị hành chính sự nghiệp cấp 3 (đơn vị dự toán cấp 3) trực thuộc đơn vị hành chính sự nghiệp cấp 2. Theo tính chất hoạt động các đơn vị hành chính sự nghiệp được phân thành: Các đơn vị sự nghiệp văn hoá, thể thao; các đơn vị sự nghiệp kinh tế; các đơn vị sự nghiệp giáo dục, khoa học; các đơn vị sự nghiệp y tế; các tổ chức đoàn thể, nghề nghiệp, xã hội. Căn cứ vào nguôn kinh phí hoạt động của các đơn vị hành chính sự nghiệp, được phân thành: ~ Đơn vị hành chính sự nghiệp hoạt động toàn bộ từ nguồn kinh phí ngân sách cấp. — Đơn vị hành chính sự nghiệp hoạt động từ nhiều nguồn kinh phí khác nhau, khi đó thường được gọi là đơn vị sự nghiệp có thu tự bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên (gọi tắt là đơn vị sự nghiệp có thu tự chủ về hoạt động tài chính).
Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm một phần chỉ phí hoạt động thường xuyên, phần còn lại được ngân sách nhà nước cấp (gọi tắt là đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm một phân kinh phí hoạt động). Don vị sự nghiệp có nguồn thu thấp, đơn vị sự nghiệp không có nguồn thu, kinh phí hoạt động thường xuyên theo chức năng, nhiệm vụ do ngân sách nhà nước bảo đảm toàn bộ kinh phí hoạt động (gọi tắt là đơn vị sự nghiệp do ngân sách nhà nước bảo đảm toàn bộ kinh phí hoạt động). Các đơn vị sự nghiệp có thu hiện nay hoạt động theo nguyên tắc tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong việc tổ chức hoạt động, sắp xếp bộ máy, sử dụng lao động và nguồn lực tài chính dé hoàn thành nhiệm vụ được giao. Do vậy, các đơn vị đều phát huy mọi khả năng của mình để cung cấp dịch vụ với chất lượng cao cho xã hội, táng nguồn thu nhằm từng bước cải thiện đời sống cho cán bộ công nhân viên.
YEU CAU, NGUYEN TAC VA NHIEM VU TO CHỨC KÉ TOÁN TRONG DON VI HANH CHINH SU NGHIEP 1. Yéu cau va nguyén tac tô chức kế toán trong dor. hành chính sự nghiệp Nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của các đơn vị hành chính sự nghiệp, khi tổ chức kế toán cần thực hiện tốt các yêu câu sau đây: ~ Phản ánh đầy đủ, kịp thời các nghiệp vụ kinh tế của đơn vị vào hệ thống chứng từ, số kế toán và báo cáo tài chính theo yêu cầu quản lý. ~ Các số liệu phản ánh yêu cầu rõ ràng và chính xác.
Các số liệu phản ánh cần trung thực, khách quan theo đúng hiện trạng của nghiệp vụ kinh tế phát sinh. Các số liệu ghi chép không được tây xóa phải tuân theo các quy định về kế toán. ~ Các số liệu phản ánh đảm bảo tính hệ thống và liên tục nhằm thuận tiện cho quá trình kiểm tra, phân tích và đánh giá. _— Đảm bảo tính tiết kiệm và hiệu quả.
Tổ chức công tác kế toán cần bố trí hợp lý về nhân sự, công việc nhằm tiết kiệm chỉ phí và nâng cao hiệu quả chất lượng thông tin phục vụ. ~ Phản ảnh được giá gốc của các tài sản như vật tư, hàng hóa, dịch vụ mua về tuân theo các quy định của cơ quan tài chính. ~ Cần đám bảo tính nhất quán về các phương pháp kế toán đã lựa chọn trong năm, thống nhất về cách lập các Báo cáo kế toán. ~ Dam bảo nguyên tắc khách quan, công khai, thận trọng trong Báo cáo kế toán.
Để nền kinh tế hội nhập và phát triển thì thông tin kế toán phải dựa trên những nguyên tắc chung thống nhất. Năm 1994, Uỷ ban Chuẩn mực Kế toán (Hiệp hội kế toán quốc tế) đã đề ra nguyên tắc kế toán chung nhằm tạo ra sự thống nhất về thông tin kế toán của các đơn vị trong nền kinh tế. Các báo cáo tài chính được xây dựng trên cơ sở các nguyên tắc chung được thừa nhận này giúp cho người sử dụng thông tin kế toán _giữa các nước có thể hiểu được kế toán của nhau. Các nguyên tắc kế toán chung được thừa nhận này bao gồm: — Hoạt động liên tục (Going-concern principle): Nguyên tắc này được hiểu các đơn vị sẽ hoạt động vô thời hạn hoặc ít nhất là không bị giải thể trong tương lai gần.
Trường hợp đơn vị bị giải thể, phá sản. sẽ áp dụng những quy định kế toán đặc biệt. Chẳng hạn, tài sản của đơn vị khí bị giải thể sẽ được đánh giá theo giá thị trường chứ không phải theo giá phí. — Thước đo tiền tệ (Monetery principle): Kế toán lựa chọn và sử dụng một đơn vị tiền tệ làm thước đo thống nhất trong việc ghi chép, hạch toán.
Như vậy, tiền là đơn vị đo lường cơ bản của kế toán. - Kỳ kế toán (Accounting periods principle): Là khoảng thời gian nhất định mà các báo cáo kế toán được lập, có thể là tháng, quý, năm, nhằm tiện cho việc so sánh, thì các kỳ kế toán thường dài bằng nhau. — Nguyên tắc giá phí (The cost principle): Đòi hỏi việc đánh giá, giá trị tài sản, công nợ, chỉ phí, doanh thu. trên cơ sở giá phí thực tế phát sinh chứ không phải giá thị trường.
— Nguyên tắc doanh thu thực hiện (The revenue principle): Doanh thu là số tiền thu được khi bán các sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ của khách hàng tương ứng số hàng đó đã chuyên quyền sở hữu cho khách hàng. — Nguyên tắc phù hợp (The Matching principle): Doi hoi chi phí phải phù hợp với doanh thu mà nó tạo ra ở kỳ đó, để đảm bảo kế toán xác định đúng đắn kết quả kinh đoanh trong đơn vị hành chính sự nghiệp. — Nguyên tắc khách quan (The Objectivity principle): Thông tin do kế toán cung cấp phải mang tính khách quan dựa trên những bằng chứng tin cậy thông qua hệ thống chứng từ có thể kiểm tra được. — Nguyên tắc thận trọng (The prudent principle): Khi kế toán ghi tăng, giảm doanh thu, chi phí, nguồn vốn chủ sở hữu.
phải có các bằng chứng tin cậy, nguyên tắc này nhằm phản ánh thực trạng tài chính của các đơn vị. — Nguyên tắc nhất quán (The Consisteney Principle): Nguyên tắc này được hiểu, khi kế toán áp dụng các phương pháp hạch toán, phương pháp tính giá, hình thức tổ chức số kế toán. phải nhất quán ít nhất trong một niên độ kế toán, khi có sự thay đổi phải giải trình trong hệ thống báo cáo tài chính. — Nguyên tắc công khai (The Disclosure Principle): Nguyên tắc này được hiểu hệ thống báo cáo tài chính của đơn vị phải đầy đủ, rõ ràng và công khai cho tất cả các đối tượng sử dụng thông tỉn.