mở đầu - Đối với người dạy: Sử dụng phương pháp giảng giảng dạy tích cực (diễn giảng, vấn đáp, dạy học theo vấn đề); yêu cầu người học nhớ các giá trị đại lượng, đơn vị của các đại lượng. - Đối với người học: Chủ động đọc trước giáo trình trước buổi học Điều kiện thực hiện bài học - Phòng học chuyên môn hóa/nhà xưởng: Phòng học chuyên môn - Trang thiết bị máy móc: Máy chiếu, máy tính và các thiết bị dạy học khác - Học liệu, dụng cụ, nguyên vật liệu: Chương trình Mô đun, giáo trình, tài liệu tham khảo, giáo án, phim ảnh, và các tài liệu liên quan. - Các điều kiện khác: Không có Kiểm tra và đánh giá bài học - Nội dung: Kiến thức: Kiểm tra và đánh giá tất cả nội dung đã nêu trong mục tiêu kiến thức Kỹ năng: Đánh giá tất cả nội dung đã nêu trong mục tiêu kĩ năng. Năng lực tự chủ và trách nhiệm: Trong quá trình học tập, người học cần: + Nghiên cứu bài trước khi đến lớp + Chuẩn bị đầy đủ tài liệu học tập.
+ Tham gia đầy đủ thời lượng Mô đun. + Nghiêm túc trong quá trình học tập. - Phương pháp: Điểm kiểm tra thường xuyên: 1 điểm kiểm tra (hình thức: hỏi miệng) Kiểm tra định kỳ lý thuyết: không có Kiểm tra định kỳ thực hành: không có 11 Nội dung chính : 1. Khái niệm về Internet Khái niệm cơ bản về Internet Internet là mạng máy tính toàn cầu sử dụng giao thức TCP/IP để trao đổi thông tin giữa các máy tính trên mạng.
Vì Internet kết nối nhiều máy tính của nhiều quốc gia trên thế giới, cho nên Internet là một liên mạng máy tính, là mạng của các mạng máy tính (network of networks) Các máy tính trên Internet sử dụng cùng một giao thức TCP/IP ( Transmission Control Protocol / Internet Protocol: Giao thức truyền dữ liệu / giao thức Internet) để giao tiếp với nhau. Giao thức này cho phép mọi máy tính trên mạng trao đổi dữ liệu với nhau một cách thống nhất, tương tự như một ngôn ngữ quốc tế được mọi người cùng sử dụng để có thể hiểu nhau. Các mạng cấu thành Internet được kết nối với nhau thông qua nhiều hệ thống truyền tin khác nhau 2. Kết nối Internet đến máy tính và điện thoại di động a.
Kết nối hữu tuyến Hai mạng phổ biến nhất được sử dụng trong gia đình ngày nay là hữu tuyến và không dây. Cả hai cái tên đã nói lên tất cả: một mạng hữu tuyến sử dụng các cáp mạng (các dây này bạn nhìn thấy kết nối các máy tính với nhau hoặc với một thiết bị khác, như là máy in). Các nền mạng không dây thực hiện cùng các nhiệm vụ, nhưng không cần cáp mạng. Tại Sao Vẫn Sử Dụng Hữu Tuyến? Tại Sao Sử Dụng Không Dây? Mặc dù hiệu quả của các mạng không Lợi ích rõ ràng của một mạng không dây ngày một cải thiện, trong hầu hết dây là sự tiện lợi.
Bạn có thể sử dụng các trường hợp bạn sẽ vẫn chỉ có thể cùng một máy in, kết nối Internet, và lướt và chơi trò chơi nhanh hơn trên các thiết bị máy tính khác trên nhiều một mạng hữu tuyễn. Cộng thêm, máy không cần dây. Bạn cũng có thể nhiều nhà mới đã được lắp đặt sẵn các giảm số dây chạy trong phòng, dưới đường cáp, do vậy, bạn có thể dễ dàng thảm và trong một số trường hợp, từ lắp đặt mạng gia đình mình mà không phòng này sang phòng khác. phải tự lắp ráp dây mạng.
Sử dụng bảo vệ bằng mật khẩu. Mạng của bạn có thể hỗ trợ bảo vệ bằng mật khẩu. Điều này đặc biệt quan trọng với các mạng không dây, loại mạng này có thể dễ dàng truy cập từ bên ngoài nhà bạn.) Để giúp bảo vệ thông tin bí mật cá nhân của mình, bắt đầu sử dụng bảo vệ bằng mật khẩu ngay sau khi bạn lắp đặt xong mạng, và đổi mật khẩu định kỳ (ít nhất một lần một tháng). Nếu bạn không biết cách sử dụng tính năng bảo vệ bằng mật khẩu, xem sách hướng dẫn cho người sử dụng đi kèm với bộ định tuyến mới.
12 Thủ thuật: Bạn có sử dụng các mật khẩu dễ đoán không? Để tìm hiều thêm, đọc các thủ thuật của chúng tôi để biết cách tạo các mật khẩu mạnh hơn. Cài đặt máy tính của bạn để chia sẻ các tệp. Khi bạn có một mạng, bạn có thể "chia sẻ" các tệp giữa tất cả các máy tính được kết nối vào mạng. Để có hướng dẫn từng bước, xem Cài Đặt Chia Sẻ Tệp.
Cho Phép mã hóa Bí Mật Cá Nhân Tương Đương Hữu Tuyến (WEP). Nếu bạn có một mạng không dây, bạn sẽ cần thực hiện thêm một bước bảo mật khi bạn mới cài đặt điểm truy cập không dây. Các mạng không dây được bảo vệ bởi cái gọi là mã hóa Bí Mật Cá Nhân Tương Đương Hữu Tuyến (WEP). Bởi vì tất cả các điểm truy cập không dây là khác nhau, xem sách hướng dẫn đi kèm với phần cứng để biết cách đặt cấu hình WEP và cách cài đặt mật khẩu WEP của bạn.
Kết nối không dây Mạng không dây (hay còn gọi là mạng Wi-Fi, mạng Wireless, 802.11 ) là mạng kết nối các thiết bị có khả năng thu phát sóng (như máy vi tính có gắn Adapter không dây, PDA,…) lại với nhau không sử dụng dây dẫn mà sử dụng song vô tuyến được truyền dẫn trong không gian thông qua các trạm thu/phát sóng. Các ứng dụng của Mạng Wireless Nên thiết lập Wireless ở những nơi có tính chất tạm thời để làm việc hoặc ở những nơi mạng Cable truyền không thể thi công hoặc làm mất thầm mỹ quan: Như các toà nhà cao tầng, khách sạn, bệnh viện, nhà hang nơi mà khách hang thường sử dụng mạng không dây với cường độ cao và đòi hỏi tính cơ động cao. Mạng Wireless là kỹ thuật thay thế cho mạng LAN hữu tuyến, nó cung cấp mạng cuối cùng với khoảng cách kết nối tối thiểu giữa một mạng xướng sống và mạng trong nhà hoặc người dung di động trong các cơ quan. Nguyên lý hoạt động Mạng WLAN sử dụng sóng điện từ (vô tuyến và tia hồng ngoại) để truyền thông tin từ điểm này sang điểm khác mà không dựa vào bất kỳ kết nối vật lý nào.
Các sóng vô tuyến thường là các sóng mang vô tuyến bởi vì chúng thực hiện chức năng phân phát năng lượng đơn giản tới máy thu ở xa. Dữ liệu truyền được chồng lên trên sóng mang vô tuyến để nó được nhận lại đúng ở máy thu. Đó là sự điều biến sóng mang theo thông tin được truyền. Một khi dữ liệu được chồng (được điều chế) lên trên sóng mang vô tuyến, thì tín hiệu vô tuyến chiếm nhiều hơn một tần số đơn, vì tần số hoặc tốc độ truyền theo bit của thông tin biến điệu được thêm vào sóng mang.
Nhiều sóng mang vô tuyến tồn tại trong cùng không gian tại cùng một thời điểm mà không nhiễu với nhau nếu chúng được truyền trên các tần số vô tuyến khác nhau. Để nhận dữ liệu, máy thu vô tuyến bắt sóng (hoặc chọn) một tần số vô tuyến xác định trong khi loại bỏ tất cả các tín hiệu vô tuyến khác trên các tần số khác. Trong một cấu hình mạng WLAN tiêu biểu, một thiết bị thu phát, được gọi 13 một điểm truy cập (AP – access point), nối tới mạng nối dây từ một vị trí cố định sử dugj cáp Ethernet chuẩn. Điểm truy cập (access point) nhận, lưu vào bộ nhớ đệm, và truyền dữ liệu giữa mạng WLAN và cơ sở hạn tầng mạng nối dây.
Một điểm truy cập đơn hỗ trợ một nhóm nhỏ người sử dụng và vận hành bên trong một phạm vi vài mét tới hàng chục mét. Điểm truy cập(hoặc anten được gắn tới nó) thông thường được gắn trên cao nhưng thực tế được gắn bất cứ nơi đâu miễn là khoảng vô tuyến cần thu được. Các người dùng đầu cuối truy cập mạng WLAN thông qua các card giao tiếp mạng WLAN mà được thực hiện như các card PC trong các máy tính để bàn, hoặc các thiết bị tích hợp hoàn toàn bên trong các máy tính cầm tay. Các card giao tiếp mạng WLAN cung cấp một giao diện giữa hệ điều hành mạng (NOS) và sóng trời (qua một anten).
Bản chất của kết nối không dây là trong suốt với NOS. Các loại hình dịch vụ * Dịch vụ ADSL ADSL (Asymmetric Digital Subscriber Line) là công nghệ truyền internet bằng cáp đồng với tốc độ băng thông bất đối xứng trong đó tốc độ dowload và upload không bằng nhau, thường xảy ra tốc độ dowload sẽ cao hơn tốc độ upload dữ liệu. Tín hiệu khi truyền băng thông trên đường dây cáp đồng sẽ được tách ra làm 2 phần, một phần nhỏ tín hiệu được dùng cho Phone, Fax. Phần lớn tín hiệu còn lại dùng cho truyền tải mạng internet ADSL về modem.
Thuật ngữ giải thích rõ về công nghệ internet ADSL Asymmetric: Tốc độ truyền không giống nhau ở hai chiều. Tốc độ của chiều xuống (từ mạng tới thuê bao) có thể nhanh gấp hơn 10 lần so với tốc độ của chiều lên (từ thuê bao tới mạng). Ðiều này phù hợp một tốt cho việc khai thác dịch vụ Internet khi mà chỉ cần kết nối (tương ứng với lưu lượng nhỏ thông tin mà thuê bao gửi đi) là có thể nhận được một lưu lượng lớn dữ liệu tải về từ Internet. Digital: Các Modem ADSL hoạt động ở mức bit (0 & 1) và dùng để chuyển thông tin số hoá giữa các thiết bị số như các máy tính PC.
Chính ở khía cạnh này thì ADSL không có gì khác với các Modem thông thường. Subscriber Line: ADSL tự nó chỉ hoạt động trên đường dây thuê bao bình thường nối tới tổng đài nội hạt. Ðường dây thuê bao này vẫn có thể được tiếp tục sử dụng cho các cuộc gọi đi hoặc nghe điện thoại cùng một thời điểm thông qua thiết bị gọi là “Splitters” có chức năng tách thoại và dữ liệu trên đường dây. Ứng dụng công nghệ ADSL ADSL hoạt động theo cách thức xác lập cách thức dữ liệu được truyền giữa thuê bao (nhà riêng hoặc công sở) và tổng đài thoại nội hạt trên chính đường dây điện thoại bình thường, thường gọi các đường dây này là local loop.
Thực chất của ứng dụng ADSL không phải ở việc truyền dữ liệu đi/đến tổng đài điện thoại nội hạt mà là tạo ra khả năng truy nhập Internet với tốc độ cao. Như vậy, vấn đề nằm ở việc xác lập kết nối dữ liệu tới Nhà cung cấp dịch vụ Internet. Mặc dù 14 ADSL được sử dụng để truyền dữ liệu bằng các giao thức Internet, nhưng trên thực tế việc thực hiện điều đó như thế nào lại không phải là đặc trưng kỹ thuật của ADSL.