CHƯƠNG I: CON NGƯỜI VÀ MOI TRUONG 1. Con người 1.1 Tính sinh học — xã hội của con người Con người là một thực thể thống nhất giữa tính sinh học và tính xã hội. Hai đặc tính này có mối quan hệ mật thiết và tương quan với nhau. Nghiên cứu hai đặc.
tính này của con người thì mới có thể hiểu được hành vi của con người.1 Tính sinh học của con người Để hiểu biế ẽ về i i, cần nắm vững kiến thức về cầu tạo não. + Não bộ Nao bộ của con người nặng khoảng 1. Nó là các mô hình thần kinh xốp, mềm, màu hồng, xám, trong đó chứa hàng tỷ nơron thần kinh. Cấu trúc của não có não.
sau, não giữa và não trước. 'Não được chia làm hai phần: bán cầu não trái và bán cầu não phải. Chúng được. nối với nhau bằng một bó lớn các day than kinh, gọi là Callosum.
Chức năng của bán cầu não phải: xúc giác trái - tư duy sáng tạo, óc tưởng tượng, cảm nhận hội họa, cảm nhận âm nhạc, xây dựng các hình tượng không gian. Chức năng của bán cầu não trái: Xúc giác phải - lời nói, khả năng viết, tư duy logic, tur duy toán học, khoa học và ngôn ngữ. Ba đường rãnh sâu phân chia đại não thành các thùy. Các rãnh có tên là rãnh dọc.
chia đôi hai bán cầu đại não; rãnh bên; rãnh trung tâm. Những rãnh này chia mỗi bán cầu não thành 4 thùy. Phần vỏ não nằm phía trước rãnh Ralando và phía trên rãnh. Silvius tạo thành thùy trán, nó tiếp nhận xung động cảm giác sau khi đã nhận được các thùy khác xử lý và nó gửi các mệnh lệnh tới các cơ để thực hiện các cử động.
Thùy cham là thùy nằm ở phía sau cùng. Nó tiếp nhận các xung động thị giác đến từ mắt. “Thùy đỉnh nằm giữa rãnh trung tâm và thùy chẩm. Nó có phản xạ với sự tiếp xúc, đau đớn và nhiệt độ.
Cuối cùng là thùy thái đương nằm phía dưới rãnh Silvius va trước 4 thùy chẳm. Nó tiếp nhận các xung động về âm thanh và mùi vị, đồng thời nó còn cả trung tâm kiểm soát lời nói. Cấu trúc nối não bộ với các phần còn lại của cơ thé là tủy sống, nó còn là một bó dây thần kinh dài chạy từ cuống não xuống dọc theo xương sống tới xương cùng cụt. 'Các nowrron than kinh hay còn gọi là các mô thần kinh của não bộ và tủy sống, cấu tạo nên hệ thần kinh trung ương.
Tắt cả các mô thần kinh khác gọi là hệ thần kinh ngoại vi. Hai hệ thần kinh này phối hợp hài hòa thì các chức năng trong cơ thể hoạt động cân bằng, thuận lợi. Nha sinh lý học người Nga — Xetrenop đã chỉ ra tình cảm và suy nghĩ đều có co sở là phản xạ. Có phản xạ không điều kiện và phản xạ có điều kiện.
Phản xạ không điều kiện: nằm trong trung khu thần kinh ở các phần dưới vỏ não. và có đại diện trên vỏ não. Phản xạ không điều kiện là cơ sở sinh lý bản năng của con người và động vật. Phản xạ có điều kiện: là phản xạ tự tạo từng cá thể do phản ứng thích nghỉ và các thói quen trong quá trình hoạt động với các tác động của thế giới xung quanh.
+ Tế bào thân kinh ‘TE bao thần kinh là yếu tố của hành vi. Hệ thần kinh tạo ra đường đi cho phép con người hoạt động chính xác hầu hết các công việc hàng ngày hoặc khi chúng ta phát âm một từ này chính xác khác với những từ kia. 'Để hiểu được hệ thần kinh có thể thực hiện việc kiểm soát các hành vi bên trong. và hành vi bên ngoài của cơ thể chúng ta cần phải bắt đầu từ việc hiểu tế bào thần kinh, những bộ phận cơ bản nhất trong hé thin kinh và nghiên cứu cách thức xung động thần kinh được truyền đi khắp cơ th.
Số lượng tế bào thần kinh có gần 200 tỷ tế bào thần kinh trong bộ não. Có nhiều loại té bao thần kinh khác nhau, mỗi loại đều có cấu trúc cơ bản tương tự như nhau. C63 loại nowrron thần kinh chính: nơron cảm giác, nơron vận động và các liên nơron. Các nơron cảm giác còn gọi là nơron hướng tâm mang các thông tỉn từ tế bào thy thể cảm giác tới hệ thần kinh trung ương.
Các nơron vận động còn gọi là nơron ly tâm, mang thông tin từ hệ thần kinh trung ương tới các cơ bắp và các tuyến trong cơ thể. Các liên nơron truyền thông tỉn từ các nơron cảm giác tới các liên nơron khác hoặc đi tới các nơron vận động.2 Tính xã hội của con người 'Tâm lý người khác xa với tâm lý của một số loài động vật cao cấp ở chỗ: Tâm lý có bản chất xã hội và mang tính lịch sử. ~ Tâm lý người có nguồn gốc hiện thực khách quan (thế giới tự nhiên và xã hội), trongđó nguồn gốc xã hội là cái quyết định. Ngay cả phần tự nhiên trong thế giới cũng được xã hội hoá.
Phần xã hội hoá thế giới quyết định tâm lý con người thể hiện qua: + Các quan hệ kinh tế - xã hội; + Các mối quan hệ đạo đức, pháp quyền; + Các mối quan hệ giữa con người với con người từ quan hệ gia đình, làng xóm, quê hương, cho đến các quan hệ nhóm, quan hệ cộng đồng. Các mối quan hệ này quyết định bản chất tâm lý con người. 'Trên thực tế, nếu con người thoát lý khỏi các quan hệ xã hội, quan hệ người - người đều làm cho tâm lý người mất đi bản tính người. Đặc biệt, những trẻ em do.
động vật nuôi từ bé, tâm lý của trẻ này không hơn hẳn tâm lý loài vật. ~ Tâm lý người là san phan của hoạt động và giao tiếp của con người trong các. mối quan hệ xã hội Con người. là một thực thể tự nhiên, nhưng điều chủ yếu và quyết định là con người là một thực thể xã hội.
+ Con người là một thực thê tự nhiên như đặc điểm cơ thể, giác quan, thần kinh, bộ não, được xã hội ở mức cao nhất. + Con người là một thực thể xã hội: Con người là chủ thể của nhận thức, chủ thể của hoạt động giao tiếp với tư cách một chủ thể tích, chủ thể sáng tạo. Vì thế tâm lý con người mang đầy đủ dấu ấn xã hội lịch sử của con người. + Tâm lý của mỗi cá nhân là kết quả của quá trình lĩnh hội, tiếp thu vốn kinh nghi xãệm hội, nền văn hoá xã hội thông qua hoạt động và giao tiếp (như hoạt động 6 vui chơi, học tập, lao động, công tác xã hội).
Trong đó, giáo dục giữ vai trò chủ đạo, hoạt động của con người và mối quan hệ giao tiếp của con người trong xã hội đóng vai trò quyết định trực tiếp + Tâm lý của mỗi con người hình thành, phát triển và biến đổi cùng với sự phát triển của lịch sử cá nhân, lịch sử dân tộc và cộng đồng. 'Tóm lại, tâm lý của con người có nguồn gốc xã hội, vì thế khi nghiên cứu phải nghiên cứu môi trường xã hội, nền văn hoá xã hội, quan hệ xã hội trong đó con người sống và hoạt động. Đồng thời, cần phái tổ chức các hoạt động dạy học và giáo dục cũng như các hoạt động chủ đạo ở từng giai đoạn lứa tuổi khác nhau để hình thành và phát triển tâm lý con người.2 Các yếu tố ảnh hưởng tới sự phát triển của con người 1.1 Ảnh hưởng của phương thức sống và thức ăn Karl Linné từ thế kỷ thứ 18 đã đặt con người vào bộ linh trưởng (Primatas). Thực ra bản chất con người vừa là cơ thể sinh học (somatic) vừa là văn hóa (cultural).
Quá trình khai thác môi trường từ cỏ cây, thú vật và quá trình thích nghỉ với điều kiện sống này là xuất phát điểm sâu xa dẫn đến chế tác công cụ và sáng tạo công nghệ chính là biểu tượng văn hóa, thể hiện trên những cấu tạo và chức năng mới của cơ thể. Hoàn thiện khả năng cầm nắm hướng tới chế tác và cải tiến công cụ. “Tăng cường ý nghĩa của kích thích thị giác trên cơ sở phát triển thị giác. Thoái hóa hàm răng, chuyển chức năng cầm nắm từ răng sang bản tay, chuyên biệt hóa chỉ sau với chức năng đi thẳng.
Phite tap hóa cấu trúc và chức năng não bộ đặc biệt là các trung tâm liên quan đến hoạt động tổng hợp (ngôn ngữ và chữ viết). Việc tăng cường sử dụng protein động vật đã cung cấp thêm năng lượng, có liên quan mật thiết đến toàn bộ hoạt động của cơ thể và liên quan đến sự tiến hóa về hình thái cấu tạo của các loại hình Người. Chế độ dinh dưỡng có ảnh hưởng lâu dài đến các đặc điểm cơ thể. Ví dụ có 2 bộ tộc ở châu Phi sống gần nhau nhưng bộ tộc Maxai chuyên chăn nuôi, ăn thịt nhiều hơn cho nên cao hơn đến 10 cm và nặng hơn 10 kg so với tộc người Kaknia (thuộc Kenia) chuyên trồng trọt.
~ Môi trường sinh thái và chế độ đỉnh dưỡng tạo ra những dị biệt khá lớn về đáp ứng sinh học. Ví dụ tiến bộ của y học (văn hóa) đã làm yếu hoặc loại trừ một 7 số áp lực chọn lọc nhưng lại tạo cơ hội cho một số áp lực mới như AIDS, các bệnh về tìm mạch, béo phì. ~ Văn hóa một mặt là sự đáp ứng trước áp lực môi trường, mặt khác chính nó lại là áp lực tạo nên tính đa hình di truyền. Vì vậy, với con người, hai mặt sinh học và văn hóa không thể tách rời nhau.2 Ảnh hưởng của yếu tố khí hậu Ảnh hưởng của yếu tố khí hậu biểu hiện ở nhiều trạng thái khác nhau theo.
mùa, theo địa lý. Là đều là tổ hợp của nhiều thành phần như nhiệt độ, độ ẩm, gió. mây mưa, nắng tuyết. Tác động cua tổ hợp này được thông qua nhiều rào chắn tự.
nhiên (sông, hồ, biển, núi, cây rừng .) và rào chắn văn hóa (nhà cửa, quần áo, tiện nghỉ sinh hoạt .) tạo thành khí hậu toàn cầu, địa phương, tiểu khí hậu (ở tiểu vùng) và vi khí hậu (tại chỗ có giới hạn hẹp). Điều hòa nhiệt là thích nghỉ sinh học chủ đạo liên quan đến các chức năng của các tổ chức cơ thể. Một số cơ cấu góp phần bảo đảm tốt thích nghỉ với vỉ khí hậu. 'Ví dụ khi nhiệt độ môi trường thay đồi thì nhiệt da biến đổi nhưng nhiệt trung tâm của cơ thể bao giờ cũng được giữ ồn định - gọi là động vật ổn nhiệt 36~ 37°C.