Chương 1 NHỮNG VẤN ĐẾ CHUNG VỂ GIAO TIẾP sư PHẠM 1. Khái niệm về giao tiếp, giao tiếp SU’ phạm 1. Khái niệm về giao tiép Giao tiếp là một hiện tượng tâm lý rất phức tạp và nhiều mặt, nhiều cấp độ khác nhau. Có nhiều định nghĩa khác nhau về giao tiếp.
Mỗi tác giả khi đưa ra ý kiến cùa minh đều dựa trên một quan điểm riêng và có hạt nhân hợp lý của nó. ở phương Tây, M.Acgain (nhà tâm lý học Anh) nhấn mạnh đến khía cạnh thông tin, thông báo trong giao tiếp, tác giả xem giao tiếp như là một quá trình hai mặt của sự thông báo, đó là quá trinh thiết lập sự tiếp xúc và trao đồỉ thông tin. Vander Zander (nhà tâm lý học Mỹ, 1977) nhấn mạnh đến khía cạnh tương tác lẫn nhau trong quá trình giao tiếp. Tác giả xem giao tiếp là một quá trinh tương tác diễn ra liên tục bao gồm những người tham gia, những người chiếm những môi trường khác nhau nhưng chồng chéo lên nhau, đồng thời là những người gửi và nhận thông điệp.
Trong Tâm lý học Liên xô, cũng có nhiều tác giả nghiên cứu về giao tiếp. Chăng hạn, L X Vưgôtxki xem giao tiếp là sự thông báo hoặc là quan hệ qua lại một cách thuần tuý giữa người với người, như là một sự trao đổi quan điểm và cảm xúc.Côvaliôv xem giao tiếp như là sự giao thiệp 7 bằng lời nói cùa một số người với mục đích giải quyết một vấn đề lý thuyết hay thực tiễn nào đó. Nhũng quan điểm này nhấn mạnh đến khía cạnh thông báo, cảm xúc, phương tiện giao tiếp ngôn ngữ, hoặc hình thức bên ngoài của giao tiếp - hình thức liên kết giữa con người với nhau Ở Việt Nam, vấn đề giao tiếp cũng được nhiều nhà tâm lý học quan tâm, đặc biệt là những năm gần đây. Trong “Từ điển tâm lý học” (do Vũ Dũng chù biên, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội 2000), “Giao tiếp” được định nghĩa: “Giao tiếp là quá trình thiết lập và phát triển tiếp xúc giữa các cá nhân xuất phát từ nhu cầu phối họp hành động.
Giao tiếp bao gồm hàng loạt các yếu tố như trao đổi thông tin, xây dựng chiến lược hoạt động thống nhất, tri giác và tim hiểu người khác. Khi nói về giao tiếp, tác giả Phạm Minh Hạc nhấn mạnh đến khía cạnh thiết lập quan hệ xã hội, quan hệ liên nhân cách trong giao tiếp, tác giả xem giao tiếp như là hoạt động xác lập và vận hành các quan hệ người - người để hiện thực các quan hệ xã hội giữa người ta với nhau. Tác giả Ngô Công Hoàn quan niệm giao tiếp như là hinh thức đặc trưng cho mối quan hệ giữa con người với con người mà qua đó nảy sinh sự tiếp xúc tâm lý và được biểu hiện ớ các quá trinh thông tin, hiểu biết, rung cảm, ảnh hưởng và tác động qua lại lẫn nhau. Các tác giả này đã xem giao tiếp như là điều kiện cùa sự tồn tại và phát triển cùa con người.
Thông qua giao tiếp, con người trao đổi thông tin với nhau, tác động, ảnh hường lẫn nhau, hiểu biết về nhau., từ đó mà hình thành nên các mối quan hệ và quan hệ liên nhân cách. Mặc dù có những cách định nghĩa khác nhau về giao tiếp nhưng nhìn chung các tác giả nêu trên đều đề cập đến những dấu hiệu cơ bản về giao tiếp như sau: Giao tiếp là một hiện tượng đặc thù của con người, nghTa là chỉ riêng con người mới có giao tiếp thực sự khi sử dụng phương tiện ngôn ngữ (nói, viết, hình ảnh nghệ thuật.) và được thực hiện chỉ trong xã hội loài người. Giao tiếp là cách thể hiện mối quan hệ giữa con người với một hay nhiều người khác trên cơ sở các quan hệ kinh tế, chính trị, vãn hoá cùa xã hội. Giao tiếp được thể hiện ờ sự trao đối thông tin, sự hiếu biết, sự rung cảm v à ảnh h ư ở n g lẫn nhau g iữ a con n gư ời VỚI con ngư ời Giao tiếp dựa trên cơ sờ hiểu biết lẫn nhau giữa con người VỚI con người Giao tiếp là hoạt đọng đặc thù cua con người, la sự tiêp xúc có đmh hướng, có mục đích, có nội dung và phải sừ dụng những phương pháp, phương tiện nhất định nhầm trao đổi thông tin, tư tường, tình cảm, vốn sống, vốn kiến thức, vốn kinh nghiệm cua cá nhân và luôn gắn liền VỚI sự phát triền cùa xã hội loài người Từ sự phân tích trên, có thể hiểu: Giao tiếp là quá trình xác lập và vận hành các moi quan hệ người - người, thông qua đỏ con người írao đòi với nhau về thông tin, cam xúc, tri giác lân nhau và anh /lương, tác động qua lại với nhau.
Mối quan hệ giao tiếp giữa con người VỚI con người có thể diễn ra theo các hình thức khác nhau: Giao tiép giữa cá nhân VỚI cá nhân Giao ttiép giữa cá nhân với nhóm Giae liép giữa nhóm VỚI nhóm, giữa nhóm với cộng, đông 1. K h á i riệm về giao tiếp sư phạm Khi mgaièn cứu về giao tiếp sư phạm, đã có nhiều tác giả đưa ra các khái niệm tìheo q u an đ iểm riên g VỚI n h ữ n g k h ía cạn h k h á c n h au v à có p h ạm vi khác nhaiu Nhin chung, có hai cách hiếu về giao tiếp sư phạm: Cách hểu thứ nhất, theo nghĩa hẹp, giao tiếp sư phạm được được giới hạn trong rmố quan hệ, giao tiếp giữa giáo viên và học sinh Chẳng hạn, trong tác phẩm “ Ciao tiếp sư phạm” (A.Lêônchiev, Matxcova, 1979) đã khẳng đinh giao tiiếp sư phạm là giao tiếp nghề nghiệp cùa giáo viên VỚI học sinh ờ trên lớp và ngoài giờ lên lớp.Trong cuốn “ Giao tiếp sư phạm” (2001), tác giả Ngô Công Hoàn quan niệm: “Giao tiếp sư phạm là giao tiếp có tírh chất nghề nghiệp giữa giáo viên với học sinh trong quá trình giảng dạy (giáo dưỡng) và giáo dục, có chức năng sư phạm nhất định, tạo ra các tiếp xúc tâm lý, xây dựng không khí tâm lý thuận lợi cùng với các quá trinh tâm lý khac (chú ý, tư duy.) tạo ra kết quả tối ưu cùa quan hệ thầy trò trong nội bộ tập :hể học sinh và trong hoạt động dạy cũng như hoạt động học”. Cách hiểu thứ hai, theo nghĩa rộng, giao tiếp sư phạm đưcrc m ờ rộng phạm vi về chủ thể và đối tượng giao tiếp. Chẳng hạn, tác giả Nguyễn Thị Thanh Binh (1996) xác định giao tiếp sư phạm là quá trinh tiếp xúc tâm lý, trong đó diễn ra sự trao đổi thòng tin, cảm xúc, nhận thức và tác động, ảnh hường qua lại lẫn nhau, nhằm thiết lập nên những mối quan hệ giáo dục giữa nhà giáo dục với đối tượng giáo dục, giữa nhà giáo dục với các lục lượng giáo dục, giữa các nhà giáo dục VỚI nhau để thực hiện mục đích giáo dục.
Trong hoạt động giao tiếp sư phạm, không chỉ có mối quan hệ giữa giáo viên - học sinh mà còn có cả mối quan hệ giữa giáo viên - các lực lượng giáo dục, giữa giáo viên - giáo viên. Như vậy, theo xu hướng này, chù thể giao tiếp sư phạm không chỉ là giáo viên mà bao gồm tấ cả các lực lượng có liên quan đến việc giáo dục học sinh. Mục tiêu cuối cùng của giao tiếp sư phạm không phải chỉ là sự truyền đạt tri thức một cách ỉó hiệu quả mà còn nhằm thiết lập các mối quan hệ sư phạm và phát triển nhìn cách học sinh. Do đó, giao tiếp sư phạm còn là quá trình trao đổi thông Ún, tiếp xúc tâm lý, tình cảm, nhận thức, tác động, ảnh hưởng lẫn nhau giữa các chủ thể tham gia giao tiếp.
Dựa vào các nghiên cứu nêu trên chúng ta thấy rằng, hoạt động sư phạm điển hinh phải là hoạt động diễn ra trong nhà trường, trong đó chủ yếu là sự giao tiếp giữa giáo viên và học sinh. Giáo viên là người tó chức, điều khiển quá trình giáo dục trong nhà trường được gọi là chủ thể giao tiếp với nghĩa chung nhất, còn học sinh là người lĩnh hội tri thức khoa hoc, kỹ năng, 10 kỹ xảo nghề nghiệp do giáo viên truycn đạt, với nghĩa này học sinh là đôi tượng (khách thể) giao tiếp trong hoạt động sư phạm Tuy nhiên, đổ dạy học, giáo dục đạt hiệu quả, chất lượng cao, chủng ta không thể COI học sinh là khách thể thụ động mà các cm thực sự là chù thể có ý thức, hoạt động tích cực để lhh hội, tiếp thu tri thức khoa học do giáo viên truyền đạt Như vậy, có thể hiểu: Giao lúp sư phạm là quá trình xác lập và vận hành mối quan hệ giữa giáo viên - h>c sinh nhằm truyền đạt và lĩnh hội những tri thức khoa học, vốn sống, vôí kinh nghiệm, kỹ năng, kỹ xao đê xây dựng và phút Iriủn nhân cách toàn dim ơ hục sinh. Giao tièp sư phạm có 3 đặc thù Đặc th j thứ nhất: Trong giao tiếp sư phạm, giáo viên (chù thể giao tiếp ) k h ô n g chỉ g ia o tiếp VỚI h ọ c sinh q u a nội d u n g bài g iàn g , tri th ứ c k h o a học mà họ plải là tấm gương sáng, mẫu mực về nhân cách đúng với yêu cầu cùa xã hội' cui đinh cho học sinh noi theo. Nghĩa là, ờ giáo viên, lời nói, v iệc làm , hà»h vi ứ ng xừ p hải có sự th ố n g n h ất VỚI n h au , có n h ư vậy m ới tạo được uy ín cao đối với học sinh.
Đặc thi thứ hai: Giáo viên dùng các biện pháp giáo dục tinh cảm, thuyết phụic, vận động đối với học sinh, nghiêm cấm những hành vi xàm phạm thần thỉ và danh dự cùa học sinh. Đặc tili thứ ba: Sự tôn trọng cùa Nhà nước và xã hội đối với giáo viên. Truyểnthông tôn sư trọng đạo của nhân dân ta đã được Nhà nước qui định bằng Duit Nhà nước có chính sách và tạo điều kiện để xã hội quí trọng nhà giáo, UÔI trọng nghề dạy học, báo đảm các điều kiện vật chất và tinh thần để nhà ịiáo thực hiện nhiệm vụ cùa mình 1. Vi trí, vii trò của giao tiếp sư phạm Giao tiỉp sư phạm có vị trí quan trọng trong cấu trúc năng lực sư phạm cùa ưiịười giáo viên.
Giao tiếp sư phạm có thể là công cụ phục vụ 11 công việc giảng dạy, có thể là điều kiện xã hội - tâm lý bảo đảm quá trình giáo dục, có thể là phương thức tồ chức các mối quan hệ qua lại giữa thầy và trò.