$ BỘ GIAO THONG VAN TAI - TRUONG CAO DANG NGHE GIAO THONG VAN TALTW I GIAO TRINH CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI NGƯỜI NGHÈO (Lưu hành nội bộ) LỜI NÓI ĐÀU Công tác xã hội với người nghèo là mô đun chuyên môn nghề quan trọng của chương trình đạo tạo cao đẳng nghề, liên quan tới các hoạt động cung cắp dịch vụ cho đối tượng. 'Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế đã đem lại cho đất nước nhiều thành tựu to lớn về mọi mặt nhưng những vấn để như thiên tai, dịch bệnh, khủng bố, thảm họa, nghèo đói, ô nhiễm môi trường, đặc biệt là người nghèo dân tộc thiểu số dang sinh sống ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn vẫn cần sự hỗ trợ của Nhà nước để vươn. lên thoát nghèo. Giáo trình CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI NGƯỜI NGHÈO được biên soạn theo chương.
trình đào tạo trình độ cao đẳng nghề nghề Công tác xã hội đã được phê duyệt Giáo trình gồm có: Bài 1: Chương trình mục tiêu quốc gia xoá đói giảm nghèo và việc làm Bài 2: Nhiệm vụ và hoạt động của ban xoá đói giảm nghèo Bài 3: Ngân hàng chính sách xã hội và tín dụng hộ nghèo Bài 4: Lập kế hoạch sản xuất phát triển kinh tế gia đình. Bài 5: Vấn đề giới trong xoá đói giảm nghèo. Bài 6: Phương pháp có sự tham gia của người dân trong xoá đói giảm nghèo. Mặc dù đã có sự cố gắng lớn của tập thể tác giả cùng sự tạo điều kiện của Khoa và Nhà trường, nhưng đây là giáo trình được biển soạn lần đầu nên không tránh khỏi những.
Tập thể tác giả mong nhận được những ý kiến góp ý cả các chuyên gia, đồng. nghiệp và độc giả để giáo trình ngày cảng hoản thiện hơn. Xin trân trọng cảm ơn! Nhóm biên soạn BAI 1: NHUNG VAN DE CO BAN VE DOI NGHEO VA XOA DOL GIAM NGHEO 1. Quan niệm và nhận dạng về nghèo đói 1.
Quan niệm về nghèo đói 1. Khái niệm nghèo Từ điển Bách khoa toàn thư mở Wikipedia mô tả nghèo là “sự thiếu cơ hội để có thị ing m6t cuộc sống tương ứng với các tiêu chuẩi ¡ thiểu nhất định. Thước đo các tiêu chuẩn này và các nguyên nhân dẫn đến nghèo nàn thay đổi tùy theo địa phương và theo thời gian ”. Theo tổ chức Y tế Thế giới (WHO), nghèo được xác định là “nghèo theo thu nhập.
Người nghèo là người có thu nhập hàng năm ít hơn một nứa mức thu nhập bình quân trên đầu người hàng năm (Per Capita Incomme, PCI) ctia quoc gia”. Các quốc gia tham gia hội nghị về chống nghèo đói do Uỷ ban Kinh tế xã hội khu vực Châu á- Thái Bình Dương (ESCAP) tổ chức tại Bangkok, Thái Lan vào tháng 9 năm 1993, đã thống nhat cao va cho rang: "Nghéo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những như. cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế xã hội, phong tục tập quán của từng vùng và những phong tục ấy được xã hội thừa nhận.” Khái niệm này đó đề cập đến sự phụ thuộc của nhu cầu con người ở mỗi giai đoạn phát triển và sự khác biệt giữa các phong tục tập quán được thừa nhận ở các vùng khác nhau. Điều này muốn nhắn mạnh rằng nhu cầu cơ bản của con người ở mỗi một nền văn hoá, một giai đoạn phát triển kinh tế là khác nhau Định nghĩa mới của Ngân hàng Thế giới đề cập đến nghèo ở khía cạnh rong hơn không chỉ là thiếu thốn điều kiện về vật chất mà còn là những vấn đề khác như giáo dục, sức khỏe hay khả năng dễ bị tổn thương.
Theo tổ chức này “Nghèo là khái niệm vượt khỏi phạm vì túng thiếu vẻ vật chất; nghèo không chi gém các chỉ số dựa trên thu nhập mà còn gồm các vấn đề liên quan đến năng lực như dinh dưỡng, súc khỏe, giáo dục, khả năng dễ bị tổn thương, không có quyển phát ngôn và không có quyền lực”. Quan niệm của Việt Nam về nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có khả năng thỏa mãn một phần các nhu cầu cơ bản của con người và có mức sống ngang bằng với mức sống tối thiểu của cộng đồng xét trên mọi phương diện. đói được hiểu là tỉnh trạng một bộ phận dân cư nghèo có mức. sống dưới mức tối thiểu không đảm bảo nhu cầu vật chất để duy trì cuộc sống.
Quan niệm về nghẻo đói của từng quốc gia hay từng vùng, từng nhóm dân cư, nhìn chung không có sự khác biệt đáng kể. Tiêu chi chung nhất để xác định nghèo đói vẫn là mức thu thập hay chỉ tiêu để thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người về ăn, ở mặc, y tế, giáo dục, văn hóa, đi lại và giao tiếp xã hội. Sự khác nhau chỉ là thỏa. mãn ở mức cao hay thấp mà thôi.
Điều này phục thuộc vào trình độ phát triển kinh tế ~ xã hội cũng như phong tục tập quán của từng vùng, từng quốc gia. Người ta phân ra hai loại nghèo, nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối. 'Roberd Me Namara đã định nghĩa khái niệm nghèo tuyệt đối như sau: ”Nghèo ở mức độ tuyệt đối. là sống ở ranh giới ngoài cùng của tôn tại.
Những người nghèo. tuyệt đối là những người phải đấu tranh để sinh tôn trong các thiểu thốn tôi tệ và trong tinh trạng bỏ bê và mắt phẩm cách vượt quá sức tưởng tượng mang đấu ấn của cảnh ngộ may mắn của giới trí thức chúng ta. Ngân hàng Thế giới xem thu nhập 1 đô la mỹ/ngày theo sức mua tương ứng. mức mua tương đương để thoả mãn nhu cầu sống tối thiểu là chuẩn nghèo tuyệt đối.
Theo tir điển Bách khoa toàn thư Wikipedia, nghèo tương đối là “việc cung cấp. không đây đủ các tiền lực vật chất và phi vật chất cho những người thuộc về một số tằng lớp xã hội nhất định so với sự sung túc của xã hội đó”. Nghèo tương đối có thé là khách quan, tức là sự hiện hữu không phụ thuộc vào cảm nhận của những người trong cuộc. Người ta gọi là nghèo tương đối chủ quan khi những người trong cuộc cảm thấy nghèo không phụ thuộc vào sự xác định khách quan.
Bên cạnh việc thiếu sự cung cấp vật chất (tương đối), việc thiểu thốn tài nguyên phi vật chất ngày cảng có. tầm quan trọng hơn”. Quan niệm đơn giản cho rằng + Nghèo tuyệt đối: Là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng đáp ứng nhu cầu tối thiểu của con người như cơm ăn, áo mặc, chữa bệnh, học hành. + Nghèo tương đối: Là sự so sánh tình trạng kinh tế của người/nhóm cá nhân này với người/nhóm cá nhân khác.
Chuẩn nghèo và phương pháp xác định: Chuẩn nghèo là một thước đo để xác định ai nghèo, ai không nghèo, điều đó cũng có nghĩa quan trọng cho việc: + Xác định đối tượng an trợ giúp phù hợp + Hoạch định chính sách và các giải pháp trợ giúp + Tổ chức thực hiện giúp đối tượng tiếp cận với các chính sách trợ giúp Có hai phương pháp xác định chuẩn nghèo: ~ Phương pháp dựa vào nhu cầu chỉ tiêu ; ~ Phương pháp so sánh với thu nhập bình quân đầu người của các hộ gia đình; a. Phương pháp xác định chuẩn nghẻo dựa vào nhu cầu chỉ tiêu: Đây là phương pháp do các chuyên gia Ngân hàng thế gới (WB) khởi xướng và cũng là phương pháp được nhiều quốc gia cũng như các tổ chức Quốc tế công nhận và sử dụng trong việc xác định chuẩn nghèo ở cắp quốc gia hoặc sử dụng trong các dự án lớn. Nội dung cơ bản của phương pháp này là dựa vào nhu cầu chỉ tiêu để bảo đảm các nhu cầu cơ bản của con người về ăn, ở, mặc, y tế, giáo dục, văn hoá, đi lại và giao tiếp xã hội. 'Tổng chỉ tiêu = chỉ tiêu cho LTTP + chỉ tiêu cho phi LTTP Ưu điểm của phương pháp này: Có cơ sở khoa học tin cậy ; độ chính xác cao; phản sát thực trạng cuộc sống, nhiều quốc gia công nhận và sử dụng, có cơ sở để so sánh với các quốc gia khác.
khi điều chỉnh chuẩn nghèo cho từng năm chỉ cần điều chỉnh giá cả rổ hàng hoá. Công thức tính: CN,= (CLTTP,,* CSG + CLTTP,¡) : 70 * 100 Trong đó: CN,. chuẩn nghèo năm thứ j CTLTTP: chỉ tiêu cho lương thực thực phẩm CSG: tốc độ giá gia tăng của rỗ hàng hoá Chia 70 và nhân 100 là chỉ tiêu cho LTTP chiếm 70% tổng chỉ tiêu Nhược điểm của phương pháp này: Tỉnh toán phức tạp, nhất là tính toán giá cả rỗ hàng hoá, vì giá các mặt hing ở các vùng, miễn, khu vực thành thị và nông thôn khác nhau, phải tính toán để có giá trị trung vị hoặc trung bình hợp lý, chính điều này tạo nên sự không hợp lý của chuẩn nghèo cho một địa phương cụ thể, song nó lại có ¥ nghĩa chung ở cấp quốc gia hoặc cho vùng. Mặt khác việc thu thập thông tỉn các mặt hàng và chỉ tiêu thực tế của dân cư cũng phức tạp, chỉ có số ít người làm được; chỉ phí điều tra tốn kém ; rỗ hàng hoá phải luôn thay đổi và dễ bị ý muốn chủ quan chỉ phối; giá cả LTTP và phi LTTP luôn thay đổi và có sự khác nhau giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng, do vậy việc tính toán cũng dễ có sai số và bị chỉ phối bởi ý kiến.
Phương pháp xác định chuẩn nghèo dựa vào so sánh với thu nhập bình quân đầu người của các hộ gia đình Phương pháp này cũng rất khoa học và tương đối đơn giản, một số nước phát triển ở Châu Âu và Mỹ đã sử dụng, họ cho rằng người nghèo là những người có thu nhập không đủ để chỉ phí cho lương thực thực phẩm và các dịch vụ xã hội. Do vậy người ta xác định chuẩn nghèo bằng khoảng 1⁄2 thu nhập bình quân đầu người của các hộ gia đình trong cả nước. Công thức tính cụ thể cho nước ta như sau: Công thức tính: CNj=(TNj/2+TNj⁄3):2 Trong đó: CNj là chuẩn nghèo năm thứ j 'TNj là thu nhập bình quân đầu người của các hộ gia đình năm thứ j Trong trường hợp này chuẩn nghèo được lấy ở khoảng giữa của 1/2 va 1/3 thu nhập bình quân đầu người của hộ gia đình Phương pháp này có ưu điểm là đơn giản, dễ tính toán và nó gắn rất chặt với tốc độ tăng thu nhập của dân cư, ít tốn kém kinh phí vì có thể sử dụng số liệu có sẵn, các địa phương cũng tự tính được chuẩn nghèo của mình.