Giáo Trình Chủ Nghĩa Xã Hội Khoa Học VNUA (Đại Học - Không Chuyên)

Tài liệu giảng dạy Chủ nghĩa xã hội khoa học vnua hệ thống hóa kiến thức từ cơ bản đến nâng cao ngành phục vụ đào tạo và nghiên c

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Giáo trình

2019

140
8
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI NÓI ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: NHẬP MÔN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC

1.1. Sự ra đời của Chủ nghĩa xã hội khoa học

1.1.1. Hoàn cảnh lịch sử ra đời chủ nghĩa xã hội khoa học

1.1.1.1. Điều kiện kinh tế - xã hội

1.1.2. Tiền đề khoa học tự nhiên và tư tưởng lý luận

1.1.2.1. Tiền đề khoa học tự nhiên
1.1.2.2. Tiền đề tư tưởng lý luận

1.1.3. Vai trò của Các Mác và Phriđrích Ăngghen

1.1.3.1. Sự chuyển biến lập trường triết học và lập trường chính trị
1.1.3.2. Chủ nghĩa duy vật lịch sử
1.1.3.3. Học thuyết về giá trị thặng dư
1.1.3.4. Học thuyết về sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của giai cấp công nhân

1.1.4. Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản đánh dấu sự ra đời của chủ nghĩa xã hội khoa học

1.2. Các giai đoạn phát triển cơ bản của Chủ nghĩa xã hội khoa học

1.2.1. Thời kỳ từ 1848 đến Công xã Pari (1871)

1.2.2. Thời kỳ sau Công xã Pari đến 1895

2. CHƯƠNG 2: SỨ MỆNH LỊCH SỬ CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN

3. CHƯƠNG 3: CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VÀ THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

4. CHƯƠNG 4: DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VÀ NHÀ NƯỚC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

5. CHƯƠNG 5: CƠ CẤU XÃ HỘI - GIAI CẤP VÀ LIÊN MINH GIAI CẤP, TẦNG LỚP TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

6. CHƯƠNG 6: VẤN ĐỀ DÂN TỘC VÀ TÔN GIÁO TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

7. CHƯƠNG 7: VẤN ĐỀ GIA ĐÌNH TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

Tóm tắt

I. Giáo Trình CNXH Khoa Học VNUA Tổng Quan Kiến Thức 55

Giáo trình Chủ nghĩa xã hội khoa học tại VNUA cung cấp kiến thức nền tảng và hệ thống về sự ra đời, phát triển của môn học. Sinh viên có được hiểu biết về đối tượng, phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa của môn học. Môn học này là một trong ba bộ phận hợp thành Chủ nghĩa Mác-Lênin. Giáo trình trang bị kỹ năng luận chứng về khách thể và đối tượng nghiên cứu của một khoa học, phân biệt được những vấn đề chính trị - xã hội trong đời sống hiện thực. Quan trọng hơn, sinh viên hình thành thái độ tích cực với việc học tập các môn lý luận chính trị, có niềm tin vào mục tiêu, lý tưởng và sự thành công của công cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Theo nghĩa rộng, Chủ nghĩa xã hội khoa họcChủ nghĩa Mác-Lênin, luận giải từ các giác độ triết học, kinh tế học chính trị và chính trị- xã hội về sự chuyển biến tất yếu của xã hội loài người từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản.

1.1. Sự Ra Đời Các Giai Đoạn Phát Triển CNXH Khoa Học

Giáo trình trình bày chi tiết về hoàn cảnh lịch sử ra đời của Chủ nghĩa xã hội khoa học. Điều kiện kinh tế - xã hội vào những năm 40 của thế kỷ XIX, cuộc cách mạng công nghiệp phát triển mạnh mẽ tạo nên nền đại công nghiệp. Cùng với quá trình phát triển của nền đại công nghiệp, sự ra đời hai giai cấp cơ bản, đối lập về lợi ích, nhưng nương tựa vào nhau: giai cấp tư sản và giai cấp công nhân. Sự lớn mạnh của phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân đòi hỏi một hệ thống lý luận soi đường và một cương lĩnh chính trị làm kim chỉ nam cho hành động. Điều kiện kinh tế - xã hội ấy không chỉ đặt ra yêu cầu đối với các nhà tư tưởng của giai cấp công nhân mà còn là mảnh đất hiện thực cho sự ra đời một lý luận mới, tiến bộ- chủ nghĩa xã hội khoa học.

1.2. Đối Tượng Phương Pháp Nghiên Cứu Ý Nghĩa Học Tập

Giáo trình chỉ rõ, mọi khoa học đều có đối tượng nghiên cứu riêng, và đối với Chủ nghĩa xã hội khoa học, đó là lĩnh vực chính trị - xã hội của đời sống xã hội. Sự phân biệt Chủ nghĩa xã hội khoa học với các khoa học chính trị- xã hội khác nằm ở đối tượng nghiên cứu. Với tư cách là một trong ba bộ phận hợp thành Chủ nghĩa Mác - Lênin, Chủ nghĩa xã hội khoa học trực tiếp nghiên cứu, luận chứng sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, những điều kiện, những con đường để giai cấp công nhân hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình. Quan trọng hơn, Chủ nghĩa xã hội khoa học có chức năng giác ngộ và hướng dẫn giai cấp công nhân thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình trong ba thời kỳ: Đấu tranh lật đổ sự thống trị của giai cấp tư sản, giành chính quyền; thiết lập sự thống trị của giai cấp công nhân, thực hiện sự nghiệp cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội; phát triển chủ nghĩa xã hội tiến lên chủ nghĩa cộng sản.

II. Sứ Mệnh Giai Cấp Công Nhân Yếu Tố Đặc Điểm 58

Giáo trình Chủ nghĩa xã hội khoa học VNUA nhấn mạnh, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là phạm trù trung tâm, nguyên lý xuất phát của môn học. C.Mác và Ph.Ăngghen đã sử dụng nhiều thuật ngữ khác nhau để chỉ giai cấp công nhân như giai cấp vô sản; giai cấp vô sản hiện đại; giai cấp công nhân hiện đại; giai cấp công nhân đại công nghiệp…Đó là những cụm từ đồng nghĩa để chỉ: giai cấp công nhân - con đẻ của nền đại công nghiệp tư bản chủ nghĩa, giai cấp đại biểu cho lực lượng sản xuất tiên tiến, cho phương thức sản xuất hiện đại. Giai cấp công nhân được xác định trên hai phương diện cơ bản: kinh tế - xã hội và chính trị - xã hội.

2.1. Khái Niệm Đặc Điểm Của Giai Cấp Công Nhân Theo Mác Lênin

Trên phương diện kinh tế - xã hội, giai cấp công nhân là những người lao động trực tiếp hay gián tiếp vận hành các công cụ sản xuất có tính chất công nghiệp ngày càng hiện đại và xã hội hóa cao. Họ không sở hữu tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội, phải bán sức lao động cho nhà tư bản và bị chủ tư bản bóc lột giá trị thặng dư. Trên phương diện chính trị - xã hội, trong chế độ tư bản chủ nghĩa, sự thống trị của giai cấp tư sản, đặc biệt của bộ phận tư sản đại công nghiệp là điều kiện ban đầu cho sự phát triển giai cấp công nhân. Những đặc điểm nổi bật của giai cấp công nhân là: lao động bằng phương thức công nghiệp, sản phẩm của nền đại công nghiệp, phẩm chất đặc biệt về tính tổ chức, kỷ luật lao động, tinh thần hợp tác và tâm lý lao động công nghiệp.

2.2. Nội Dung Đặc Điểm Sứ Mệnh Lịch Sử Của Giai Cấp

Nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân chính là những nhiệm vụ mà giai cấp công nhân cần phải thực hiện với tư cách là giai cấp tiên phong, là lực lượng đi đầu trong cuộc cách mạng xác lập hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa. Về kinh tế, giai cấp công nhân đóng vai trò chủ thể của quá trình sản xuất vật chất, tạo tiền đề vật chất - kỹ thuật cho sự ra đời của xã hội mới. Về chính trị - xã hội, giai cấp công nhân cùng với nhân dân lao động tiến hành cách mạng chính trị để lật đổ quyền thống trị của giai cấp tư sản, xây dựng nhà nước kiểu mới. Về văn hóa, tư tưởng, giai cấp công nhân xây dựng hệ giá trị mới: lao động; công bằng; dân chủ; bình đẳng và tự do. Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân xuất phát từ những tiền đề kinh tế - xã hội của sản xuất mang tính xã hội hóa. Thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là sự nghiệp cách mạng của bản thân giai cấp công nhân cùng với đông đảo quần chúng và mang lại lợi ích cho đa số. Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân không phải là thay thế chế độ sở hữu tư nhân này bằng một chế độ sở hữu tư nhân khác mà là xóa bỏ triệt để chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất.

2.3. Điều Kiện Khách Quan Chủ Quan Để Thực Hiện Sứ Mệnh

Điều kiện khách quan bao gồm địa vị kinh tế và địa vị chính trị-xã hội của giai cấp công nhân. Giai cấp công nhân là con đẻ, là sản phẩm của nền đại công nghiệp trong phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, là chủ thể của quá trình sản xuất vật chất hiện đại. Điều kiện chủ quan bao gồm sự phát triển của bản thân giai cấp công nhân cả về số lượng và chất lượng. Chất lượng giai cấp công nhân phải thể hiện ở trình độ trưởng thành về ý thức chính trị của một giai cấp cách mạng, năng lực và trình độ làm chủ khoa học kỹ thuật và công nghệ hiện đại.

III. CNXH Thời Kỳ Quá Độ Nội Dung Theo VNUA 59

Giáo trình Chủ nghĩa xã hội khoa học VNUA đề cập đến quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin về Chủ nghĩa xã hội, thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội và sự vận dụng sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam vào điều kiện cụ thể Việt Nam. Chủ nghĩa xã hội được hiểu theo bốn nghĩa: phong trào thực tiễn, phong trào đấu tranh của nhân dân lao động; trào lưu tư tưởng, lý luận phản ánh lý tưởng giải phóng nhân dân lao động; một khoa học - Chủ nghĩa xã hội khoa học; một chế độ xã hội tốt đẹp, giai đoạn đầu của hình thái kinh tế- xã hội cộng sản chủ nghĩa. Các nhà sáng lập Chủ nghĩa xã hội khoa học đã xây dựng nên học thuyết về hình thái kinh tế- xã hội, chỉ ra tính tất yếu sự thay thế hình thái kinh tế- xã hội tư bản chủ nghĩa bằng hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa.

3.1. Chủ Nghĩa Xã Hội Giai Đoạn Đầu Của Hình Thái Kinh Tế Xã Hội

Hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa phát triển từ thấp lên cao qua hai giai đoạn, giai đoạn thấp và giai đoạn cao, giai đoạn cộng sản chủ nghĩa; giữa xã hội tư bản chủ nghĩa và xã hội cộng sản chủ nghĩa là thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa cộng sản. Về xã hội của thời kỳ quá độ, đó là xã hội vừa thoát thai từ xã hội tư bản chủ nghĩa, xã hội chưa phát triển trên cơ sở của chính nó còn mang nhiều dấu vết của xã hội cũ để lại.

3.2. Điều Kiện Ra Đời Chủ Nghĩa Xã Hội Tính Tất Yếu Khách Quan

Chủ nghĩa cộng sản hình thành từ chủ nghĩa tư bản, phát triển lên từ chủ nghĩa tư bản là kết quả tác động của một lực lượng xã hội do chủ nghĩa tư bản sinh ra - giai cấp vô sản, giai cấp công nhân hiện đại. Các nhà sáng lập chủ nghĩa xã hội khoa học đã thừa nhận vai trò to lớn của chủ nghĩa tư bản. Tuy nhiên, trong xã hội tư bản chủ nghĩa, lực lượng sản xuất càng mang tính xã hội hóa cao, thì càng mâu thuẫn với quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa. Cuộc đấu tranh giữa giai cấp công nhân và giai cấp tư sản xuất hiện ngay từ đầu và ngày càng trở nên gay gắt và có tính chính trị rõ rét. Sự phát triển của lực lượng sản xuất và sự trưởng thành thực sự của giai cấp công nhân là tiền đề, điều kiện cho sự ra đời của hình thái kinh tế- xã hội cộng sản chủ nghĩa.

3.3. Đặc Trưng Cơ Bản Của Chủ Nghĩa Xã Hội Theo Giáo Trình VNUA

Giáo trình nêu rõ, chủ nghĩa xã hội giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người, tạo điều kiện để con người phát triển toàn diện. Chủ nghĩa xã hội có lực lượng sản xuất phát triển cao, dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội. Chủ nghĩa xã hội có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Chủ nghĩa xã hội có nhà nước kiểu mới, thể hiện bản chất giai cấp công nhân, đại biểu cho quyền lợi và nguyện vọng của nhân dân lao động. Chủ nghĩa xã hội có nền văn hóa phát triển cao, kế thừa và phát huy những giá trị tốt đẹp của dân tộc và nhân loại.

IV. Quá Độ Lên CNXH Ở Việt Nam Thực Tiễn Giải Pháp 59

Giáo trình Chủ nghĩa xã hội khoa học VNUA phân tích quá trình quá độ lên Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, từ đó đưa ra những đánh giá về thực tiễn và giải pháp cho giai đoạn hiện nay. Có thể thấy, quá độ lên Chủ nghĩa xã hội là một tất yếu khách quan. Tuy nhiên, Việt Nam đi lên Chủ nghĩa xã hội từ một nước nông nghiệp lạc hậu, bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa. Do đó, thời kỳ quá độ ở Việt Nam diễn ra lâu dài và phức tạp.

4.1. Tính Tất Yếu Khách Quan Của Thời Kỳ Quá Độ Lên CNXH Ở VN

Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nước nông nghiệp lạc hậu, bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, nên thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội diễn ra lâu dài và phức tạp. Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định rõ mục tiêu, phương hướng và bước đi trong thời kỳ quá độ, từng bước xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật, phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống nhân dân.

4.2. Đặc Điểm Nhiệm Vụ Của Thời Kỳ Quá Độ Ở VN Theo VNUA

Đặc điểm lớn nhất của thời kỳ quá độ ở Việt Nam là bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, đi lên chủ nghĩa xã hội từ một xã hội vốn là thuộc địa, nửa phong kiến, lực lượng sản xuất thấp kém. Nhiệm vụ trọng tâm trong thời kỳ quá độ là xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, phát triển lực lượng sản xuất và hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa.

4.3. Phương Hướng Xây Dựng CNXH Ở VN Giải Pháp Thách Thức

Việt Nam kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân. Mở rộng quan hệ đối ngoại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế. Giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

29/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 NHẬP MÔN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC A. Về kiến thức: sinh viên có kiến thức cơ bản, hệ thống về sự ra đời, các giai đoạn phát triển; đối tượng, phương pháp và ý nghĩa của việc học tập, nghiên cứu chủ nghĩa xã hội khoa học, một trong ba bộ phận hợp thành chủ nghĩa Mác- Lênin. Về kỹ năng: sinh viên, kkhả năng luận chứng đươc khách thể và đối tượng nghiên cứu của một khoa học và của một vấn đề nghiên cứu; phân biệt được những vấn đề chính trị- xã hội trong đời sống hiện thực. Về tư tưởng: sinh viên có thái độ tích cực với việc học tập các môn lý luận chính trị; có niềm tin vào mục tiêu, lý tưởng và sự thành công của công cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo B.

Sự ra đời của Chủ nghĩa xã hội khoa học Chủ nghĩa xã hội khoa học được hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng, Chủ nghĩa xã hội khoa học là chủ nghĩa Mác- Lênin, luận giải từ các giác độ triết học, kinh tế học chính trị và chính trị- xã hội về sự chuyển biến tất yếu của xã hội loài người từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản.I Lênin đã đánh giá khái quát bộ “Tư bản” - tác phẩm chủ yếu và cơ bản trình bày chủ nghĩa xã hội khoa học… những yếu tố từ đó nảy sinh ra chế độ tương lai”1. Theo nghĩa hẹp, chủ nghĩa xã hội khoa học là một trong ba bộ phận hợp thành chủ nghĩa Mác - Lênin. Trong tác phẩm “Chống Đuyrinh”, Ph.Ăngghen đã viết ba phần: “triết học”, “kinh tế chính trị” và “chủ nghĩa xã hội khoa học”.Lênin, khi viết tác phẩm “Ba nguồn gốc và ba bộ phận hợp thành chủ nghĩa Mác”, đã khẳng định: “Nó là người thừa kế chính đáng của tất cả những cái tốt đẹp nhất mà loài người đã tạo ra hồi thế kỷ XIX, đó là triết học Đức, kinh tế chính trị học Anh và chủ nghĩa xã hội Pháp”2. Trong khuôn khổ môn học này, chủ nghĩa xã hội khoa học được nghiên cứu theo nghĩa hẹp.

Hoàn cảnh lịch sử ra đời chủ nghĩa xã hội khoa học 1. Điều kiện kinh tế - xã hội Vào những năm 40 của thế kỷ XIX, cuộc cách mạng công nghiệp phát triển mạnh mẽ tạo nên nền đại công nghiệp. Nền đại công nghiệp cơ khí làm cho phương thức sản 1 V.Lênin, Toàn tập, Nxb, Tiến bộ, M.Lênin, Toàn tập, Nxb, Tiến bộ, M.50 7 xuất tư bản chủ nghĩa có bước phát triển vượt bậc. Trong tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”, C.Ăngghen đánh giá: “Giai cấp tư sản trong quá trình thống trị giai cấp chưa đầy một thế kỷ đã tạo ra một lực lượng sản xuất nhiều hơn và đồ sộ hơn lực lượng sản xuất của tất cả các thế hệ trước đây gộp lại”1.

Cùng với quá trình phát triển của nền đại công nghiệp, sự ra đời hai hai giai cấp cơ bản, đối lập về lợi ích, nhưng nương tựa vào nhau: giai cấp tư sản và giai cấp công nhân. Cũng từ đây, cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân chống lại sự thống trị áp bức của giai cấp tư sản, biểu hiện về mặt xã hội của mâu thuẫn ngày càng quyết liệt giữa lực lượng sản xuất mang tính chất xã hội với quan hệ sản xuất dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất. Do đó, nhiều cuộc khởi nghĩa, nhiều phong trào đấu tranh đã bắt đầu và từng bước có tổ chức và trên quy mô rộng khắp. Phong trào Hiến chương của những người lao động ở nước Anh diễn ra trên 10 năm (1836 - 1848); Phong trào công nhân dệt ở thành phố Xi- lê-di, nước Đức diễn ra năm 1844.

Đặc biệt, phong trào công nhân dệt thành phố Li-on, nước Pháp diễn ra vào năm 1831 và năm 1834 đã có tính chất chính trị rõ nét. Nếu năm 1831, phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân Li-on giương cao khẩu hiệu thuần túy có tính chất kinh tế “sống có việc làm hay là chết trong đấu tranh” thì đến năm 1834, khẩu hiệu của phong trào đã chuyển sang mục đích chính trị: “Cộng hòa hay là chết”. Sự phát triển nhanh chóng có tính chính trị công khai của phong trào công nhân đã minh chứng, lần đầu tiên, giai cấp công nhân đã xuất hiện như một lực lượng chính trị độc lập với những yêu sách kinh tế, chính trị riêng của mình và đã bắt đầu hướng thẳng mũi nhọn của cuộc đấu tranh vào kẻ thù chính của mình là giai cấp tư sản. Sự lớn mạnh của phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân đòi hỏi một cách bức thiết phải có một hệ thống lý luận soi đường và một cương lĩnh chính trị làm kim chỉ nam cho hành động.

Điều kiện kinh tế - xã hội ấy không chỉ đặt ra yêu cầu đối với các nhà tư tưởng của giai cấp công nhân mà còn là mảnh đất hiện thực cho sự ra đời một lý luận mới, tiến bộ- chủ nghĩa xã hội khoa học. Tiền đề khoa học tự nhiên và tư tưởng lý luận a) Tiền đề khoa học tự nhiên Sau thế kỷ ánh sáng, đến đầu thế kỷ XIX, nhân loại đã đạt nhiều thành tựu to lớn trên lĩnh vực khoa học, tiêu biểu là ba phát minh tạo nền tảng cho phát triển tư duy lý luận. Trong khoa học tự nhiên, những phát minh vạch thời đại trong vật lý học và sinh học đã tạo ra bước phát triển đột phá có tính cách mạng: Học thuyết Tiến hóa; Định luật Bảo toàn và chuyển hóa năng lượng; Học thuyết tế bào1. Những phát minh này là tiền đề 11 C.Ăngghen, Toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 1995, t.

603 11 Học thuyết Tiến hóa (1859) của người Anh Charles Robert Darwin (1809-1882); Định luật Bảo toàn và chuyển hóa năng lượng (1842-1845), của người Nga Mikhail Vasilyevich Lomonosov (1711- 1765) và Người Đức Julius Robert Mayer (1814 -1878); Học thuyết tế bào (1838-1839) của nhà thực vật học người Đức Matthias Jakob Schleiden (1804-1881) và nhà vật lý học người Đức Theodor Schwam (1810 8 khoa học cho sự ra đời của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, cơ sở phương pháp luận cho các nhà sáng lập chủ nghĩa xã hội khoa học nghiên cứu những vấn đề lý luận chính trị- xã hội đương thời. c) Tiền đề tư tưởng lý luận Cùng với sự phát triển của khoa học tự nhiên, khoa học xã hội cũng có những thành tựu đáng ghi nhận, trong đó có triết học cổ điển Đức với tên tuổi của các nhà triết học vĩ đại: Ph. Phoiơbắc (1804 - 1872); kinh tế chính trị học cổ điển Anh với A. Những tư tưởng xã hội chủ nghĩa không tưởng Pháp đã có những giá trị nhất định:1) Thể hiện tinh thần phê phán, lên án chế độ quân chủ chuyên chế và chế độ tư bản chủ nghĩa đầy bất công, xung đột, của cải khánh kiệt, đạo đức đảo lộn, tội ác gia tăng; 2) đã đưa ra nhiều luận điểm có giá trị về xã hội tương lai: về tổ chức sản xuất và phân phối sản phẩm xã hội; vai trò của công nghiệp và khoa học - kỹ thuật; yêu cầu xóa bỏ sự đối lập giữa lao động chân tay và lao động trí óc; về sự nghiệp giải phóng phụ nữ và về vai trò lịch sử của nhà nước…; 3) chính những tư tưởng có tính phê phán và sự dấn thân trong thực tiễn của các nhà xã hội chủ nghĩa không tưởng, trong chừng mực, đã thức tỉnh giai cấp công nhân và người lao động trong cuộc đấu tranh chống chế độ quân chủ chuyên chế và chế độ tư bản chủ nghĩa đầy bất công, xung đột.

Tuy nhiên, những tư tưởng xã hội chủ nghĩa không tưởng phê phán còn không ít những hạn chế hoặc do điều kiện lịch sử, hoặc do chính sự hạn chế về tầm nhìn và thế giới quan của những nhà tư tưởng, chẳng hạn, không phát hiện ra được quy luật vận động và phát triển của xã hội loài người nói chung; bản chất, quy luật vận động, phát triển của chủ nghĩa tư bản nói riêng; không phát hiện ra lực lượng xã hội tiên phong có thể thực hiện cuộc chuyển biến cách mạng từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa cộng sản, giai cấp công nhân; không chỉ ra được những biện pháp hiện thực cải tạo xã hội áp bức, bất công đương thời, xây dựng xã hội mới tốt đẹp.Lênin trong tác phẩm “Ba nguồn gốc, ba bộ phận hợp thành chủ nghĩa Mác” đã nhận xét: chủ nghĩa xã hội không tưởng không thể vạch ra được lối thoát thực sự. Nó không giải thích được bản chất của chế độ làm thuê trong chế độ tư bản, cũng không phát hiện ra được những quy luật phát triển của chế độ tư bản và cũng không tìm được lực lượng xã hội có khả năng trở thành người sáng tạo ra xã hội mới. Chính vì những hạn chế ấy, mà chủ nghĩa xã hội không tưởng phê phán chỉ dừng lại ở mức độ một học thuyết xã hội chủ nghĩa không tưởng- phê phán. Song vượt lên tất cả, những giá trị khoa học, cống hiến của các nhà tư tưởng đã tạo ra tiền đề tư tưởng- lý luận, để C.Ănghen kế thừa những hạt nhân hợp lý, lọc bỏ những bất hợp lý, xây dựng và phát triển chủ nghĩa xã hội khoa học.

Vai trò của Các Mác và Phriđrích Ăngghen Những điều kiện kinh tế- xã hội và những tiền đề khoa học tự nhiên và tư tưởng lý luận là điều kiện cần cho một học thuyết ra đời, sông điều kiện đủ để học thuyết khoa học, cách mạng và sãng tạo ra đời chính là vai trò của C.Ăngghen (1820-1895) trưởng thành ở Đức, đất nước có nền triết học phát triển rực rỡ với thành tựu nổi bật là chủ nghĩa duy vật của L.Phoiơbắc và phép biện chứng của V. Bằng trí tuệ uyên bác và sự dấn thấn trong phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động C. Angghen đến với nhau, đã tiếp thu các giá trị của nền triết học cổ điển, kinh tế chính trị học cổ điển Anh và kho tàng tri thức của nhân loại để các ông trở thành những nhà khoa học thiên tài, những nhà cách mạng vĩ đại nhất thời đại. Sự chuyển biến lập trường triết học và lập trường chính trị Thoạt đầu, khi bước vào hoạt động khoa học, C.Ăngghen là hai thành viên tích cực của câu lạc bộ Hêghen trẻ và chịu ảnh hưởng của quan điểm triết học của V.

Với nhãn quan khoa học uyên bác, các ông đã sớm nhận thấy những mặt tích cực và hạn chế trong triết học của V. Với triết học của V.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ