CHƯƠNG 1 : KHÁI QUÁT CHUNG VỀ AN TOÀN ĐIỆN MỤC TIÊU: Sau khi học xong chương này người học có khả năng: - Khái quát được tầm quan trọng của môn an toàn điện. - Nêu được các phương pháp phòng tránh tai nạn điện. - Tập trung cao độ trong việc tiếp thu bài mới, tích cực học hỏi nghiên cứu, tư duy sáng tạo. Khái quát chung về môn học an toàn điện: - An toàn điện là một trong những vấn đề quan trọng đặt ra trong công tác bảo hộ lao động.
Những nguyên nhân có thể gây ra tai nạn điện: + Thiếu các hiểu biết về an toàn điện. + Không tuân theo các quy tắc về an toàn điện. - Người bị điện giật là do tiếp xúc với mạch điện có điện áp hay nói một cách khác là do có dòng điện chạy trong cơ thể người. Dòng điện chạy qua cơ thể người sẽ gây ra các tác dụng sau đây: - Tác dụng nhiệt: làm cháy bỏng thân thể, thần kinh, tim não và các cơ quan nội tạng khác gây ra các rối loạn nghiêm trọng về chức năng.
- Tác dụng điện phân: biểu hiện ở việc phân ly máu và các chất lỏng hữu cơ dẫn đến phá huỷ thành phần hoá lý của máu và các tế bào. - Tác dụng sinh lý: gây ra sự hưng phấn và kích thích các tổ chức sống dẫn đến co rút các bắp thịt trong đó có tim và phổi. Kết quả có thể đưa đến phá hoại, thậm chí làm ngừng hẳn hoạt động hô hấp và tuần hoàn. * Các nguyên nhân chủ yếu gây chết người bởi dòng điện thường tác động đến các cơ quan tim phổi ngừng làm việc và sốc điện: - Tim ngừng đập là trường hợp nguy hiểm nhất và thường ít cứu sống nạn nhân hơn là ngừng thở và sốc điện.
Tác dụng dòng điện đến cơ tim có thể gây ra cho tim ngừng đập hoặc rung tim. Rung tim là hiện tượng co rút nhanh và lộn xộn các sợi cơ tim làm cho các mạch máu trong cơ thể bị ngừng hoạt động dẫn đến tim ngừng đập hoàn toàn. - Ngừng thở thường xảy ra nhiều hơn so với tim ngừng đập, người ta thấy bắt đầu khó thở do sự co rút do có dòng điện 20-25mA tần số 50Hz chạy qua cơ thể. Nếu dòng điện tác dụng lâu thì sự co rút các cơ lồng ngực mạnh thêm, dẫn đến ngạt thở, dần dần nạn nhân mất ý thức, mất cảm giác rồi ngạt thở cuối cùng tim ngừng đập và chết lâm sàng.
- Sốc điện là phản ứng phản xạ thần kinh đặc biệt của cơ thể do sự hưng phấn mạnh bởi tác dụng của dòng điện dẫn đến rối loạn nghiêm trọng tuần hoàn, hô hấp và quá trình trao đổi chất. Tình trạng sốc điện kéo dài độ vài chục phút cho đến một ngày đêm, nếu nạn nhân được cứu chữa kịp thời thì có thể bình phục. - Hiện nay còn nhiều ý kiến khác nhau trong việc xác định nguyên nhân đầu tiên và quan trọng nhất dẫn đến chết người. ý kiến thứ nhất cho rằng đó là do tim ngừng đập song loại ý kiến thứ hai lại cho rằng đó là do phổi ngừng thở vì theo họ trong nhiều trường hợp tai nạn điện giật thì nạn nhân đã được cứu sống chỉ đơn thuần bằng biện pháp hô hấp nhân tạo thôi.
Loại ý kiến thứ ba cho rằng khi có dòng điện qua người thì đầu tiên nó phá hoại hệ thống hô hấp sau đó nó làm ngừng trệ hoạt động tuần hoàn. 6 - Do có nhiều quan điểm khác nhau như vậy nên hiện nay trong việc cứu chữa nạn nhân bị điện giật người ta khuyên nên áp dụng tất cả các biện pháp để vừa phục hồi hệ thống hô hấp (thực hiện hô hấp nhân tạo) vừa phục hồi hệ thống tuần hoàn (xoa bóp tim ). Bảng thống kê một số trường hợp bị điện giật Các yếu tố liên quan Tỉ lệ bị điện giật (%) * Theo cấp điện áp: U ≤ 1000V 76,4 U > 1000V 23,6 * Theo trình độ về điện: - Nan nhân thuộc về nghề điện 42,2 - Nan nhân không có chuyên môn về điện 57,8 * Các dạng bị điện giật: 1. Chạm trực tiếp vào điện 55,9 - Do vô tình, không phải do công việc yêu cầu tiếp xúc 6,7 - Do công việc yêu cầu tiếp xúc với dây dẫn 25,6 - Đóng điện nhầm lúc đang tiến hành sửa chữa, kiểm tra 23,6 2.
Chạm gián tiếp vào bộ phận kim loại của thiết bị bị chạm vỏ 22,8 - Lúc thiết bị không được nối đất 22,2 - Lúc thiết bị có nối đất 0,6 3. Chạm vào vật không phải bằng kim loại có mang điện áp như các tường, 20,1 các vật cách điện, nền nhà, … 4. Bị chấn thương do hồ quang sinh ra lúc thao tác các thiết bị đóng cắt. Các phương pháp phòng tránh tai nạn điên.
Trang bị bảo hộ và dụng cụ cá nhân - Trang bị bảo hộ cá nhân để bảo vệ cho người vận hành, sử dụng thiết bị điện và đặc biệt là những người lắp đặt, sữa chữa điện trực tiếp. - Đối với nhân viên lắp đặt, sữa chữa điện, ngoài những trang bị bảo hộ lao động thông thường, còn được trang bị các thiết bị bảo hộ đặc chủng khác như găng tay cách điện, giày/ủng cách điện, vòng đeo ngắn mạch, nhất là khi làm việc với điện trung và cao thế. - Dụng cụ, đồ nghề dành cho ngành điện cũng có những đặc điểm riêng như: cán, tay cầm phải được bọc cách điện (hoặc được làm bằng vật liệu cách điện). không thấm nước, không trơn trượt.
VD: tua-nơ-vít, búa, kìm (kềm): cán đều được bọc cao su, có gai cao su và có miếng chặn, gờ chặn chống trượt chạy vào bộ phận kim loại ở đầu. Trang bị các thiết bị bảo vệ. Hình dáng bên ngoài của RCD b. Sơ đồ cấu tạo của RCD - Các biện pháp ngăn chặn chạm điện trực tiếp đôi khi vẫn chưa đảm bảo độ an toàn nên vẫn có thể xảy ra tai nạn chạm điện do sai sót, nhầm lẫn như hư hỏng cách điện, thao tác đấu nối nhầm lẫn, … Nên người ta phải trang bị thêm các thiết bị bảo vệ cụ thể tùy theo từng mức độ an toàn và quy chuẩn trong dân dụng hay công nghiệp.
- RCD – (Residual Current Device): Thiết bị bảo vệ dòng rò RCD là thiết bị bảo vệ có độ nhạy cao, tác động theo dòng rò với dòng tác động cắt (I_cắt) ≥ vài mA (5, 10, 20, 30 mA, …) - Trang bị hệ thống nối đất. Tiêu chuẩn quốc tế IEC 60364 quy định 3 hệ thống nối đất (nối mát), như sau: - Mạng TN: Trong mạng TN, nguồn được nối đất, vỏ các thiết bị được nối đất thông qua dây nối đất. Có các loại mạng nối đất TN sau: - Mạng TN-S: (S - separate, riêng biệt) – 3 pha 5 dây, dây trung tính (N) và dây nối đất thiết bị (PE – Protective Earth) là tách biệt nhau. Vỏ các thiết bị được nối đất an toàn thông qua dây PE đó.
Nối mát bảo vệ của thiết bị được nối vào dây PEN này. - Phương pháp nối đất: điểm nối sao-trung tính cuộn sơ sấp MBA phân phối hay máy phát sẽ được nối trực tiếp với đất. Các bộ phận nối đất và vật dẫn tự nhiên sẽ được nối chung đến cực nối đất riêng biệt của lưới. Điện cực này có thể độc lâp hoặc có liên hệ về điện với điện cực của nguồn, hai vùng ảnh hưởng của hai điện cực này có thể bao trùm lẫn nhau mà không liên quan đến tác động của các thiết bị bảo vệ.
- Bố trí dây PE : dây PE được bố trí riêng biệt với dây trung tính và được xác định theo dòng sự cố lớn nhất có thể xảy ra. - Bố trí bảo vệ chống chạm điện gián tiếp: dòng điện sinh ra do hiện tượng chạm đất/ chạm vỏ thiết bị có thể sẽ không đủ lớn để các thiết bị bảo vệ quá dòng tác động. Do đó, để bảo vệ an toàn, nta dùng RCD để bảo vệ khi có hiện tượng chạm vỏ, dòng rò. 9 CHƯƠNG 2 : CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG HỘ LAO ĐỘNG MỤC TIÊU: Sau khi học xong chương này người học có khả năng: - Trình bày được ảnh hưởng của các hóa chất đối với sức khỏe của con người và biện pháp phòng ngừa nhiễm độc.
- Phân tích được các ảnh hưởng của hóa chất tới các cơ quan, cơ thể của con người từ đó có thể dùng các biện pháp phòng ngừa có hiệu qua trong lao động sản xuất. - Tập trung cao độ trong việc tiếp thu bài mới, tích cực học hỏi nghiên cứu, tư duy sáng tạo.Phòng chống nhiễm độc 2. Đặc tính chung của hoá chất độc. - Do các phản ứng lý hóa của chất độc với các hệ thống cơ quan tương ứng mà có sự phân bố đặc biệt cho từng chất: + Hóa chất có tính điện ly như chì, bary, tập trung trong các môi trường xung quanh, bạc vàng ở trong da hoặc lắng đọng trong gan, thận dưới dạng phức chất.
+ Các chất không điện ly như các loại dung môi hữu cơ tan trong mỡ tập trung trong các tổ chức giầu mỡ như hệ thần kinh. + Các chất không điện ly và không hòa tan trong các chất béo khả năng thấm vào các tổ chức của cơ thể kém hơn và phụ thuộc vào kích thước phân tử và nồng độ chất độc, thông thường khơi hóa chất vào cơ thể tham gia các phản ứng sinh hóa hay là quá trình biến đổi sinh học: ôxy hóa, khử ôxy, thủy phân, liên hợp. Quá trình này có thể xảy ra ở nhiều bộ phận và mô, trong đó gan có vai trò đặc biệt quan trọng. Quá trình này thường được hiểu là quá trình phá vỡ cấu trúc hóa học và giải độc, song có thể sẽ tạo ra sản phẩm phụ hay các chất mới có hại hơn các chất ban đầu.
- Tùy thuộc vào tính chất lý, hóa, sinh mà một số hóa chất nguy hiểm sẽ được đào thải ra ngoài: + Qua ruột : chủ yếu là các kim loại nặng. + Qua mật: Một số chất độc được chuyển hóa rồi liên hợp sunfo hoặc glucuronic rồi đào thơi qua mật. + Qua hơi thở có thể đào thải một số lớn chất độc dưới dạng khí hơi. + Chất độc có thể cũng được đào thải qua da, sữa mẹ.
- Đường đào thải chất độc rất có giá trị trong việc chẩn đoán và điều trị nhiễm độc nghề nghiệp. - Một số hơi, khí độc có mùi, làm cho ta phát hiện thấy có chúng ngay khi nồng độ nằm dưới mức cho phép của tiêu chuẩn vệ sinh. Nhưng sau một thời gian ngắn, một số sẽ mất mùi khiến ta không cảm nhận được nữa và dễ dàng bị nhiễm độc (ví dụ H2S).