Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Xung quanh vấn đề về tự kỷ đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu để chỉ ra những biểu hiện, bản chất, nguyên nhân… của hội chứng này. Tuy nhiên, để xác định mối liên hệ giữa giao tiếp giữa cha mẹ và con mắc chứng tự kỷ thì chưa có nghiên cứu nào đưa ra khẳng định rõ ràng. Song các tác giả trong và ngoài nước cũng đã nêu ra một vài quan điểm, đánh giá có liên quan về vấn đề giao tiếp giữa trẻ và cha mẹ, trong đó có một số tác giả đề cập cụ thể hơn về mối quan hệ giao tiếp của trẻ tự kỷ.
Sơ lược các nghiên cứu về giao tiếp của trẻ nói chung và trẻ tự kỷ nói riêng và quan hệ cha mẹ - con cái ở nước ngoài Vấn đề giao tiếp của trẻ em đã được đề cập đến từ lâu, ngay từ thời kỳ phục hưng đã được Leona Đơvanhxi (1452 - 1512) nhà bác học đồng thời là nghệ sỹ thiên tài người Ý quan tâm miêu tả sự giao tiếp giữa mẹ và con. Nhưng phải đến đầu thế kỷ 20 vấn đề giao tiếp của trẻ mới được quan tâm nghiên cứu cùng với sự ra đời của tâm lý học trẻ em. Trước hết là trong tâm lý học Xôviết, L. Vygotski đề cập tới từ những năm 30 trong công trình: “Sự phát triển của các chức năng tâm lý cấp cao”.
Đặc biệt từ những năm 70 đến nay, giao tiếp được nhiều nhà tâm lý học quan tâm. Leonchiev trong “Những vấn đề phát triển tâm lý” (1965 - 1972), Đ. Enconin “Vấn đề phân định thời kỳ phát triển tâm lý của trẻ em” (1974). Davarôfiet trong “Nguyên tắc phát triển trong tâm lý học” (1978)… Tất cả những công trình này không những có ý nghĩa to lớn đối với sự hình thành và phát triển tâm lý học trẻ em nói chung mà còn đặt cơ sở khoa học cho hàng loạt công trình nghiên cứu vấn đề giao tiếp của trẻ em sau này.
Lixina với “Nguồn gốc của những hình thức giao tiếp của trẻ em” (1978), A. Lixina “Với sự phát triển giao tiếp của trẻ mẫu LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Lixôva với “Vai trò của trò chơi trong giáo dục trẻ em” (1976), E. Chikhiepva với “Sự phát triển ngôn ngữ trước tuổi học” (1975).
Mukhina với “Tâm lý học trẻ em trước tuổi học” (1988), A. Panko với “Giao tiếp sư phạm trong giáo dục trước tuổi học” (1985), V. Avanecôva với “Giáo dục và dạy học trẻ em trong nhóm không cùng độ tuổi” (1879)… Những công trình trên đã đi sâu phân tích những vấn đề sau đây: - Vai trò to lớn có tính quyết định của giao tiếp trong sự phát triển của trẻ em để trở thành nhân cách. - Nêu ra các chức năng giao tiếp của trẻ - Các dạng giao tiếp của trẻ - Những đặc điểm giao tiếp của trẻ - Vấn đề tổ chức giao tiếp của trẻ nhằm đạt tới sự phát triển tối ưu - Những con đường giao tiếp của trẻ em (giao tiếp với người lớn và giao tiếp với bạn bè).
Vấn đề giao tiếp của trẻ em ở Mỹ và các nước phương Tây đã được nhiều nhà tâm lý học trẻ em quan tâm nghiên cứu một cách sâu sắc. Wallon (1879 - 1962) nhà tâm lý học Pháp đã nghiên cứu sự giao tiếp của trẻ em qua “Trương lực cơ bắp hay là đối thoại qua cơ bắp”. Đặc biệt, từ những năm 70 của thế kỷ này, bắt đầu ở Mỹ các nhà tâm lý học trẻ em như Bowlby, Ainsworth đã nghiên cứu khái niệm gắn bó mẹ - con (attachment) hay nối kết (bonding) đã miêu tả một phương thức ứng xử đặc biệt giữa mẹ và con. Klaus và Kennell đã nghiên cứu một kiểu gắn bó đặc biệt giữa mẹ và con sau khi mới sinh ra.
Micleline d’ Agostine đã nghiên cứu tác động qua lại giữa mẹ và con trong những năm đầu. Ckulgi (Mỹ) vào cuối những năm 60 đã công bố kết quả sau 20 năm nghiên cứu cuộc sống cô đơn của những người trước đây đã ở nhà nuôi trẻ mồ côi lâm vào tình trạng chậm phát triển. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Anna Freud – nhà tâm thần học người Áo (con gái của Freud) trong khi nghiên cứu những con đường trưởng thành đã quan tâm đến vấn đề duy kỷ, đến quan hệ với bạn bè. Spitz nhà tâm lý học trẻ em người Mỹ khi nghiên cứu sự phát triển tâm lý trẻ em trong những năm đầu đã quan tâm một cách sâu sắc đến tâm bệnh lý gây nên chủ yếu là sự rạn nứt trong mối quan hệ mẹ - con làm cho sự phát triển của trẻ em bị nhiễu loạn.
Tiến sỹ y khoa Miriam Stôpa người Anh đã nhận định: “Từ 6 đến 18 tháng tuổi sự giao tiếp với cha mẹ có vai trò quyết định. Từ 1 đến 4 tuổi, các đồ chơi, trò chơi, các câu chuyện, các bài hát, sự quan tâm của cha mẹ làm phong phú tinh thần và trí tuệ của trẻ. Sau đó, trẻ cần phải có cơ hội để rèn luyện các kỹ năng giao tiếp xã hội với các bạn cùng trang lứa, chơi chung, các trò chơi cộng đồng, kết bạn”. Bà đã khuyên các bậc cha mẹ: “Cần phải hiểu rằng mọi việc trong cuộc sống đều đi vào tâm trí trẻ một cách sâu sắc cho đến mức nó được chế biến và xuất hiện trở lại trong các trò chơi sáng tạo.
Vì vậy đối với trẻ thông minh xuất sắc, các trò chơi sáng tạo là thực phẩm nuôi dưỡng tinh thần. Điều kiện quan trọng, cốt yếu là chúng ta phải tạo điều kiện cho trẻ về thời gian cũng như về phương tiện để trẻ có thể làm việc qua các trò chơi, thể hiện những điều mà trẻ đã tiếp thu trong cuộc sống hàng ngày với bạn bè và những người xung quanh”. Nhà tâm lý học Thụy Sĩ nổi tiếng A. Pereklerman là học trò của Piaget đã khẳng định các quá trình tác động xã hội qua lại có vai trò quan trọng trong sự phát triển trí tuệ của đứa trẻ.
Ông cho rằng, các giai đoạn phát triển trí tuệ có thể nhanh hay chậm phụ thuộc vào môi trường văn hóa và học vấn của đứa trẻ. Trẻ mẫu giáo lớn có thể phát triển tư duy tốt hơn nếu được hoạt động cùng nhau với trẻ lớp 1 dưới sự hướng dẫn của giáo viên. Các công trình kể trên đây mới đề cập đến vấn đề giao tiếp của trẻ mà không phải trực tiếp chỉ ra vấn đề giao tiếp của trẻ tự kỷ nhưng chúng tôi thấy rằng đó là cơ sở cho các công trình sau này nghiên cứu về vấn đề giao tiếp của cha mẹ và trẻ tự kỷ. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Một số tác giả đã đề cập đến một khía cạnh nào đó của mối quan hệ giao tiếp giữa trẻ tự kỷ và cha mẹ, có thể kể đến như: Leo Kanner – một nhà tâm thần học người Mỹ thuộc bệnh viện John Hopkins trong một bài báo nhan đề “Autistic disturbances of affective contac” (Các rối loạn về tiếp xúc cảm xúc có tính tự kỷ, 1943) đã chỉ ra trong giao tiếp của trẻ tự kỷ trẻ không nói hoặc cách nói rất kỳ dị, thích độc thoại trong thế giới tự kỷ, chỉ hiểu nghĩa đen của câu nói… Trong công trình nghiên cứu của Bruno Bettleheim cho rằng trẻ bị tự kỷ là do người mẹ bỏ mặc, vì người mẹ có học cao nên thiên về ứng xử lý trí hơn là tình cảm, sống lạnh lùng, không yêu con.
Do cách sống thờ ơ đó nên những đứa con phản ứng lại bằng cách không muốn gần mẹ, không muốn ôm, hôn mẹ, không muốn nhìn vào mắt mẹ và không nói, đồng thời trẻ cũng ứng xử như vậy với người khác. Nghiên cứu của Lorna Wing cũng chỉ ra rằng: trong sử dụng lời nói của trẻ tự kỷ, trẻ hoặc câm lặng suốt đời, hoặc chắt chước tiếng kêu của loài vật, tiếng lạ, hoặc lập câu, lập từ. Ngữ điệu và việc làm chủ lời nói thì kỳ dị, đơn điệu, máy móc, đổi giọng không đúng chỗ… Trẻ dường như không nghe, không hiểu, không trả lời người khác. Trẻ chỉ nghe, hiểu trong tình huống trẻ muốn hoặc liên quan đến nhu cầu của trẻ.Mahler cho rằng tự kỷ là biểu hiện sự không bình thường xuất phát từ mối quan hệ mẹ con.
Đứa trẻ mới sinh ra có mối quan hệ cộng sinh hòa mình với người mẹ, đây là giai đoạn tự kỷ bình thường, sau đó đến giai đoạn chia cách cá nhân hóa (nảy sinh tâm lý cá nhân). Có một số rối loạn trong quá trình này, một điều gì đó không ổn trong giai đoạn tách mẹ và cá nhân hóa. Cơ chế tự kỷ gắn với sự mất khía cạnh hoạt hóa, mất sự phân biệt với cơ thể người mẹ, nên đứa trẻ không có sức sống, mất ham muốn về xã hội. Chức năng của trẻ tự kỷ mang ý nghĩa thái độ phòng vệ cơ bản của đứa trẻ, không thể xây dựng được cực LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com định hướng đối với người mẹ.
Đứa trẻ dính chặt vào người lớn và dùng họ như một bộ phận để kéo dài cơ thể nó. Đây là cách đứa trẻ gạt ra quyền năng của người mẹ trong giai đoạn đầu tiên. Trong nghiên cứu của Robert Rosine Le Eost nhắc nhở rằng trẻ tự kỷ dạy cho chúng ta một điều gì đó mà ta cần nghe. Thế giới của nó là thế giới tự phá hoại mình, nó chối bỏ thế giới xung quanh và tất cả mọi người làm xuất hiện hiện thực đối với nó như là một đồ vật.
Trước gương nó cảm thấy một cái gì đó rất khủng khiếp. Trẻ tự kỷ sống trong môi trường ngôn ngữ nhưng không có lời nói của riêng nó, lời nói chỉ là sự kết nối máy móc, sự lập lại mà nó không thể hiểu. Trẻ tự kỷ tách biệt với người khác, không có nhu cầu giao tiếp với người khác và luôn cảm thấy như mình bị nuốt chửng trong ham muốn của mọi người. Sơ lược các nghiên cứu về giao tiếp của trẻ nói chung và trẻ tự kỷ nói riêng và quan hệ cha mẹ - con cái ở Việt Nam Việt Nam, việc nghiên cứu giao tiếp đã phát triển mạnh theo nhiều chiều hướng khác nhau, thể hiện trên các công trình nghiên cứu lý luận và thực nghiệm.