mở đầu quá trình can thiệp sâu vào Việt Nam, từng bước loại Pháp và các thế lực thân Pháp, áp đặt chủ nghĩa thực dân mới kiểu Mỹ, thống trị lâu dài Việt Nam. Ngày 16-6-1954 Quốc trưởng Bảo Đại ký Sắc lệnh số 38-QT bổ nhiệm Ngô Đình Diệm làm Thủ tướng; ba ngày sau lại ký Dụ số 15 trao cho Ngô Đình Diệm toàn quyền cả về dân sự lẫn quân sự. Đến ngày 17-11-1954, Mỹ cử tướng tham mưu trưởng lục quân Hoa kỳ là J. Collins sang Sài Gòn làm đại sứ, một kế hoạch 6 điểm đã được đưa ra để được thực hiện: - Bảo trợ cho chính quyền Diệm, viện trợ trực tiếp cho chính quyền Sài Gòn không phải qua Pháp.
13 - Xây dựng lại Quân đội quốc gia Việt Nam với 15 vạn quân do Mỹ huấn luyện, trang bị. - Bầu cử Quốc hội ở miền Nam Việt Nam nhằm hợp pháp hoá chính quyền Sài Gòn. - Định cư cho số công giáo miền Bắc di cư vào miền Nam và có kế hoạch cải cách điền địa ở miền Nam. - Thay đổi chế độ thuế khoá, dành ưu tiên cho hàng hoá và công ty Mỹ vào miền Nam Việt Nam.
- Đào tạo cán bộ hành chính cho chính quyền Diệm. Ngày 20/01/1955, Mỹ cho ngưng hoạt động của Phái Bộ Cố vấn Quân sự (MAAG) để cùng với Pháp thành lập Phái Bộ Liên lạc Huấn luyện Mỹ - Pháp (Training Relations Instruction Mission, TRIM) gồm 200 sĩ quan Pháp và 217 sĩ quan Mỹ, do Paul Ély, Cao ủy Đông Dương kiêm Tư lệnh Quân Đội Pháp tại Viễn Đông và tướng John O’Daniel, Trưởng phái bộ MAAG của Mỹ cầm đầu. Ngày 25/4/1956 Pháp giải tán Bộ Chỉ huy quân đội Pháp ở Đông Dương và triệt thoái những đơn vị cuối cùng quân viễn chinh Pháp ra khỏi Nam Việt Nam. Ngày 26/4/1956, Pháp tuyên bố bãi bỏ chức Cao ủy Đông Dương; ngày 28/4/1956 tuyên bố giải tán Bộ Tư Lệnh Pháp tại Đông Dương, chấm dứt hoàn toàn sự hiện diện trong gần một thế kỷ của Pháp ở Việt Nam.
Ngay sau khi lên nắm quyền, Ngô Đình Diệm đã tuyên bố “Quốc gia Việt Nam là một nước cộng hòa. Quốc trưởng đồng thời là thủ tướng chính phủ lấy danh hiệu là Tổng thống Việt Nam cộng hòa. Một ủy ban được thiết lập để soạn thảo dự án hiến pháp của Quốc gia Việt Nam. Bản hiến pháp này sẽ được đưa ra trước Quốc hội do dân bầu” (Việt Nam Cộng hòa (1956)).
Ngày 26 tháng 10 là ngày công bố Hiến pháp 1956 và trở thành ngày quốc khánh, bắt đầu chế độ Đệ nhất Cộng hòa (1955 - 1963). Tuy nhiên, cho đến khi chấm dứt sự tồn tại của mình, Chế độ Việt Nam Cộng hòa vẫn cho thấy rằng đó chỉ là một thực thể có sự tồn tại xen lẫn yếu tố 14 phong kiến, chuyên chế và độc tài. Ngoài ra, sự lệ thuộc ngày càng nhiều vào Hoa Kỳ trên mọi phương diện đã đánh mất tính chính danh mà chính chế độ này cố gắng xây dựng. Xét về mặt bản chất, Chế độ Việt Nam Cộng hòa là một hình thức thuộc địa điển hình của chủ nghĩa thực dân kiểu mới mà Hoa kỳ đã thực hiện ở nhiều nơi trên thế giới mà đặc trưng lớn nhất là chống Cộng.
Chính quyền Việt Nam Cộng hòa trong suốt 21 năm tồn tại của mình đã sống dựa vào nguồn viện trợ khổng lồ từ phía Mỹ. Như tác giả Võ Văn Sen đã nói: “không có viện trợ Mỹ thì cũng không có chính quyền miền Nam” (Võ văn Sen (2005), tr. Chỉ riêng quân sự, tổng cộng viện trợ mà phía Mỹ đã dành cho chính quyền Việt Nam Cộng hòa trên cả phương diện trực tiếp và viện trợ thông qua kinh tế là 23,6 tỷ đô la và được tăng cường theo mức độ quyết liệt, căng thẳng của chiến tranh. Trong đó, khoảng 80% viện trợ kinh tế là không hoàn lại.
Trên thực tế “nói cách khác, trong hai mươi năm tồn tại của các chính phủ liên tiếp nhau tại Sài Gòn, thời gian để các chính quyền ấy thực hiện việc khai thác tiềm năng kinh tế của Miền Nam Việt Nam là không có. Thay vào đó, chính quyền Sài Gòn đã sống bằng nguồn kinh tế từ bên ngoài, chủ yếu là viện trợ Mỹ. Chiến lược sống dựa bên ngoài đó thực chất là chiến lược “kinh tế chống đỡ” của một cuộc chiến tranh” (Trần Anh Tuấn (1991), tr. Bên cạnh đó, Mỹ thúc đẩy đầu tư lớn vào miền Nam và lấy đây làm đòn bẩy quan trọng để kích thích sự phát triển của kinh tế, cơ sở hạ tầng, diện mạo đời sống xã hội của miền Nam Việt Nam.
Các hoạt động “đầu tư hướng dẫn” với các nguyên tắc cơ bản và tập trung vào những ngành ưu tiên. Trong đó tập trung một phần trọng tâm vào một số lĩnh vực sản xuất và xây dựng cơ sở hạ tầng cơ bản. Trong khi đó, từ năm 1954, Sài Gòn trở thành “thủ đô” của chính quyền miền Nam, nơi đây không chỉ là nơi trung tâm của chính trị mà còn là trung tâm thương mại, đầu mối giao thông trong nước. Sài Gòn cũng là cửa 15 ngõ giao lưu, hợp tác của toàn miền Nam với thế gới bên ngoài.
Đến đầu năm 1955, Ngô Đình Diệm lúc bấy giờ là Thủ tướng Việt Nam Cộng hòa đã đổi tên khu Sài Gòn – Chợ Lớn thành Đô thành Sài Gòn – Chợ Lớn. Sau đó ngày 22/10/1956, Tổng thống Ngô Đình Diệm ban hành Sắc lệnh số 143-NV phân chia hành chính miền Nam Việt Nam thành 22 tỉnh và lấy Sài Gòn làm thủ đô gọi là Đô thành Sài Gòn. Do đó mà một trong những mục tiêu quan trọng của chính quyền Việt Nam Cộng hòa là tập trung xây dựng Đô thành Sài Gòn trở thành một trung tâm phát triển, nổi bật, thu hút đầu tư và sự quan tâm của dân chúng cũng như thế giới. Về địa giới, để xây dựng Sài Gòn - Chợ Lớn thành trung tâm của toàn Nam bộ, chính quyền bắt đầu cho mở rộng phạm vi quản lý của Sài Gòn - Chợ Lớn ra các vùng ven: phía Tây Bắc thêm một phần huyện Đức Hòa; phía Tây và Tây Nam sáp nhập thêm Gò Đen vào Chợ Lớn; phía Nam và Đông Nam: mở rộng khu vực Thành Tuy Hạ (Long Thành); phía Bắc gồm Gò Vấp, mở rộng đến phía Nam Hóc Môn.
Điều này trước đó cũng đã được chính phủ Bảo Đại ra sức củng cố trong nỗ lực xây dựng hệ thống chính quyền các cấp từ trung ương đến cơ sở. Theo đó, xây dựng quản lý thống nhất hành chính khu Đô thành chia làm 6 quận hành chính. Ngay trong thời gian này, một số đường mới được xây dựng và đổi tên một số đường cũ như Mạc Cửu (Marché), Mạc Thiên Tích (tên cũ Annam), Trương Minh Giảng (tên cũ Route Nord du Camp de Courses, nay là Lữ Gia), Gia Long (tên cũ Lagrandi è re, nay là Lý Tự Trọng), Nguyễn Đình Chiểu (mới, nay là Hòa Hưng), Bùi Quang Chiêu (tên cũ hẻm Cá Mập, nay là Nguyễn Thị Nhu), Đỗ Thanh Nhân (tên cũ Yokohama, nay là Đoàn Văn Bơ), Phan Chu Trinh (mới, nay là Cao Đạt)… Trong suốt quá trình tồn tại, đôi khi chính quyền còn muốn mở rộng, sát nhập một phần hoặc cả tỉnh Gia Định). Theo địa giới hành chính năm 1956 thì tỉnh Gia Định gồm 6 quận, 10 tổng, 61 xã: Quận Gò Vấp (1 tổng, 8 16 xã), Quận Tân Bình (1 tổng, 7 xã), Quận Hóc Môn (2 tổng, 12 xã), Quận Thủ Đức (2 tổng, 11 xã), Quận Nhà Bè (1 tổng, 7 xã), Quận Bình Chánh (3 tổng, 16 xã).
Ở Gia Định cho đến năm 1956 cũng đã có một số khu vực Thị tứ khá phát triển và có một số đường lớn có tên (Nguyễn Đình Tư (2020), trang 32). Cùng với đó, chính quyền cũng sát nhập địa giới hành chính của Côn Sơn (Côn Đảo) vào Đô thành Sài Gòn và đặt dưới sự kiểm soát của Biệt khu Thủ đô về mặt quân sự. Trong đó, Đô thành Sài Gòn gồm 9 đặc khu (tương ứng với 9 quận) và Tiểu khu Gia Định gồm 8 chi khu (tương ứng 8 quận). Về hệ thống chỉ huy, 2 chi khu Cần Giờ và Quản Xuyên của Tiểu khu Gia Định tổ chức thành đặc khu Rừng Sát chịu sự chỉ huy của Bộ Tư lệnh Hải quân.
Trong khi đặc khu nội thành (các quận thuộc Đô thành Sài Gòn) và đặc khu ngoại thành (các chi khu của Tiểu khu Gia Định được cải biến thành đặc khu) đặt dưới quyền chỉ huy của Bộ Tư lệnh Biệt khu Thủ Đô. Như vậy chỉ riêng về mặt quân sự, Đô thành Sài Gòn là nơi đóng nhiều cơ quan của bộ máy chiến tranh thực dân mới, chính quyền Sài Gòn bố trí nhiều sư đoàn và các binh chủng, quân chủng. Cụ thể là 4 trong tổng số 9 sư đoàn sẵn sàng hỗ trợ cho Sài Gòn: Sư đoàn 5 (Biên Hòa), Sư đoàn 7 ở (Mỹ Tho), Sư đoàn 9 (Sa Đéc) và Sư đoàn 21 (Bạc Liêu); chưa kể 100% lực lượng tổng trù bị chiến lược (gồm dù, thủy quân lục chiến) và nhiều đơn vị thuộc các quân, binh chủng (hải quân, không quân, pháo binh thiết giáp) đóng ở Sài Gòn và vùng lân cận. Ngày 27-3-1959, Tổng thống Ngô Đình Diệm ban hành Nghị định số 110-NV chia địa phận Đô thành Sài Gòn làm 8 quận và 45 phường, chính thức đưa Đô thành Sài Gòn đi vào nề nếp quản lý hành chính thống nhất.
Từ đây, các vấn đề trong đời sống chính trị xã hội Đô thành cũng như các vấn đề về xây dựng, quản lý dân cư, giao thông… đều được đặt trong sự quản lý của Tòa Đô chánh. Năm 1967, Đô Thành lập thêm quận 9 gồm hai xã Thủ Thiêm, An Khánh lấy từ quỹ đất quận Thủ Đức (SL số 9, 17/01/1967); Năm 1969, 17 Đô thành lập thêm quận 10 và 11 lấy từ quỹ đất của quận 5, quận 6 và một số xã của quận Tân Bình (Gia Định) (SL 73, ngày 01/7/1969). Sài Gòn chính thức đóng vai trò thủ phủ của chính quyền Việt Nam Cộng hòa cho đến năm 1975, không những thế nơi đây còn là trung tâm của chính trị, kinh tế, văn hóa, giải trí, đầu tư, xây dựng đô thị … 1. Khái lƣợc hệ thống giao thông Sài Gòn trƣớc năm 1954 Về giao thông vận tải, ngay từ đầu khi chiếm giữ và xây dựng Sài Gòn, do tầm quan trọng đối với nền kinh tế ở những vùng Pháp mà Sài Gòn là đầu mối của tất cả các tuyến thủy, bộ, đường sắt, đường không, nên thực dân Pháp ưu tiên đầu tư rất nhiều vào đây.
Đặc biệt trong giai đoạn đầu là tài chính để cải tạo, đưa vào hoạt động các tuyến đường giao thông quan trọng.