CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Bản sắc văn hóa dân tộc 1. Khái niệm văn hóa Văn hóa là sản phẩm của con người, là hệ quả của sự tiến hóa nhân loại. Nhờ có văn hóa mà con người trở nên độc đáo trong thế giới sinh vật và khác biệt so với những con vật khác trong thế giới động vật.
Tuy nhiên, để hiểu về khái niệm “văn hóa” đến nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau, do đó có rất nhiều những định nghĩa khác nhau về văn hóa. Trong lịch sử, khái niệm văn hóa xuất hiện rất sớm ở phương Đông cũng như ở phương Tây. Ở phương Tây, từ văn hóa bắt nguồn từ tiếng La tinh: Cuture, có nghĩa là vun trồng, chăm bón, cải thiện tạo ra những sản phẩm phục vụ cho nhu cầu của con người. Trong thời kỳ Cổ đại ở Trung Quốc, văn hóa được hiểu là cách thức điều hành xã hội của tầng lớp thống trị dùng văn hóa và giáo hóa, dùng cái hay, cái đẹp để giáo dục và cảm hóa con người.
Văn là là cái tốt, cái đẹp; hóa là cảm hóa, giáo dục. Nghĩa là giáo dục con người bằng cái tốt, cái đẹp và hiện thực hóa cái tốt đẹp đó trong cuộc sống. Ở nước ta gần 600 năm trước, Nguyễn Trãi cũng đã mơ ước một xã hội văn trị, lấy nền tảng văn hiến cao, lấy trình độ học vấn và trình độ tu thân của mỗi người làm cơ sở cho sự phát triển hài hòa của xã hội. Khái niệm văn hóa về sau phát triển ngày càng phong phú.
Tùy cách tiếp cận khác nhau, cách hiểu khác nhau, đến nay đã có mấy trăm định nghĩa khác nhau về văn hóa. Theo định nghĩa của cựu Tổng giám đốc UNESCO Federico Mayor "Văn hóa là tổng thể các hoạt động sáng tạo của cá nhân và các cộng đồng trong quá khứ và hiện tại. Qua các thế kỷ hoạt động sáng tạo đã hình thành lên hệ thống các giá trị, các truyền thống và các thị hiếu, 7 z những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc (. Văn hóa nhất định sẽ ghi dấu của mình lên hoạt động kinh tế của con người" [54, tr.
UNESCO thừa nhận văn hóa là cội nguồn trực tiếp của phát triển xã hội, có vị trí trung tâm và đóng vai trò điều tiết xã hội. Nó không những là yếu tố nội sinh của sự phát triển, mà còn là mục tiêu động lực cho sự phát triển xã hội. Văn hóa giúp cho con người tự hoàn thiện, nó quyết định tính cách riêng của một xã hội, làm cho dân tộc này khác dân tộc khác. Nhà nghiên cứu văn hóa Phan Ngọc nói ông đã tìm được trên 300 định nghĩa về văn hóa và những định nghĩa này đều theo tinh thần luận.
Ông nhận xét: " …không có cái vật gì gọi là văn hóa cả và ngược lại bất cứ vật gì cũng có cái mặt văn hóa". Theo thao tác luận, ông định nghĩa: "Văn hoá là một quan hệ. Nó là mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng với thế giới thực tại. Quan hệ ấy biểu hiện thành một kiểu lựa chọn riêng của một tộc người, một cá nhân so với một tộc người khác, một cá nhân khác.
Nét khu biệt các kiểu lựa chọn làm cho chúng khác nhau, tạo thành những nền văn hóa khác nhau là độ khúc xạ. Tất cả mọi cái mà một tộc người tiếp thu hay sáng tạo đều có một độ khúc xạ riêng có mặt ở mọi lĩnh vực và rất khác độ khúc xạ ở một tộc người khác" [45, tr 104]. Hồ Chí Minh cho rằng “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặt ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa” [44, tr 431].
Còn Trần Ngọc Thêm lại định nghĩa : "Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình" [53, tr 20]. Việc xác định khái niệm văn hóa không đơn giản, bởi vì mỗi một nhà nghiên cứu đều xuất phát từ những quan điểm riêng, cứ liệu riêng, mục đích riêng phù hợp với vấn đề mình cần nghiên cứu để đưa ra các định nghĩa khác 8 z nhau về văn hóa. Tuy khác nhau, nhưng các định nghĩa đó đều thống nhất ở một điểm: “Văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra”. Mọi thứ văn hóa đều là văn hóa thuộc về con người, các thứ tự nhiên không thuộc về khái niệm văn hóa.
Văn hóa là đặc trưng căn bản, phân biệt con người với động vật, cũng là tiêu chí căn bản để phân biệt sản phẩm nhân tạo và sản phẩm tự nhiên. Như vậy với những định nghĩa giá trị về văn hóa nói trên, chúng ta có thể sử dụng để nghiên cứu lối sống, lối suy nghĩ, lối ứng xử của một dân tộc, một cồng đồng người. Khái niệm bản sắc "Bản sắc" là một khái niệm phức tạp, liên quan đến cả cái chung và cái riêng, bao gồm cả yếu tố nội dung và yếu tố hình thức. Theo Từ điển tiếng Việt [47], thuật ngữ "bản sắc" dùng để chỉ tính chất, màu sắc riêng tạo thành phẩm chất đặc biệt của một sự vật tức là nói tới sắc thái, đặc tính, đặc thù riêng của sự vật đó.
Thực tế, khi nói "bản sắc" thường là nói tới cái riêng, cái rất riêng của một sự vật để phân biệt nó với các sự vật khác trong thế giới khách quan. Cách định nghĩa này có phần nhấn mạnh cái riêng, cái đặc thù, cái biểu hiện ra bên ngoài của bản chất sự vật. "Bản sắc" là từ một ghép có gốc Hán - Việt nên có một cách tiếp cận khác là phân tích trên ngữ nghĩa của hai từ "bản" và "sắc". Theo đó, "bản" là cái gốc, cái căn bản, cái cốt lõi, cái hạt nhân của một sự vật; "sắc" là sự biểu hiện cái căn bản, cái cốt lõi, cái hạt nhân đó ra ngoài.
Cách tiếp cận này được nhận thức trên hai bình diện: mặt bản chất bên trong và mặt biểu hiện bên ngoài và giữa hai mặt đó có mối quan hệ biện chứng với nhau. Trong đó, mặt bên trong phản ánh tính đồng nhất, bản chất của một lớp đối tượng sự vật nhất định và mặt bên ngoài phản ánh những dấu hiệu, những sắc thái riêng của sự vật để làm cơ sở phân biệt sự khác nhau giữa sự vật này với sự vật khác. 9 z Thuật ngữ bản sắc thường được sử dụng gắn với văn hóa và dân tộc. Nói đến dân tộc là nói đến văn hoá, bản sắc văn hoá và nói đến văn hoá là nói đến dân tộc, bản sắc dân tộc.
Khái niệm bản sắc văn hóa dân tộc Dân tộc nào cũng có nền văn hóa truyền thống. Đó là tổng hợp những hiện tượng văn hóa-xã hội bao gồm các chuẩn mực giao tiếp, các khuôn mẫu văn hóa, các tư tưởng xã hội, các phong tục tập quán, các lễ nghi, thiết chế xã hội… được bảo tồn qua năm tháng, trở thành thói quen trong các hoạt động sống của con người và nó được in dấu mọi mặt của đời sống xã hội thuộc một dân tộc nhất định, của một cộng đồng riêng biệt, chúng ta gọi là đó “bản sắc dân tộc của văn hoá” hay “bản sắc văn hoá dân tộc”. Có thể hiểu bản sắc văn hoá là hệ thống các giá trị đặc trưng bản chất của một nền văn hoá được xác lập, tồn tại, phát triển trong lịch sử và được biểu hiện thông qua nhiều sắc thái văn hóa. Trong bản sắc văn hóa, các giá trị đặc trưng bản chất là cái trừu tượng, tiềm ẩn, bền vững; còn các sắc thái biểu hiện của nó có tính tương đối cụ thể, bộc lộ và biến đổi hơn.
Tuy nhiên, nếu dừng lại ở đây thì khái niệm bản sắc văn hóa vẫn là một khái niệm vô định, vì nói tới văn hóa là nói tới con người và nói tới những dân tộc cụ thể đã sinh ra, duy trì và phát triển nó. Vì vậy, chỉ khi tiếp cận đến bản sắc văn hóa của dân tộc thì ý nghĩa của nó mới được thể hiện một cách trọn vẹn. Ở Việt Nam có nhiều quan niệm khác nhau về vấn đề bản sắc văn hóa như tính chất dân tộc, hình thức dân tộc, đặc điểm, cốt cách, bản lĩnh, sắc thái dân tộc. Tác giả Hoàng Trinh cho rằng: "Bản sắc văn hoá dân tộc và tổng thể những tính chất, tính cách, đường nét, sắc thái biểu hiện ở một dân tộc trong lịch sử tồn tại và phát triển giúp cho dân tộc đã giữ vững được tính duy nhất, tính thống nhất, tính nhất quán so với bản thân mình trong quá trình phát triển” [56].
Nói tới bản sắc văn hóa của dân tộc tức là nói những “giá trị gốc, căn bản, cốt lõi, những giá trị hạt nhân” của dân tộc. Giá trị hạt nhân không phải 10 z là tất cả mọi giá trị, mà chỉ là những giá trị tiêu biểu nhất, bản chất nhất, mang tính dân tộc sâu sắc nhất biểu hiện trong mọi lĩnh vực của nền văn hóa, trong các lĩnh vực văn học nghệ thuật, sân khấu, hội họa, điêu khắc, kiến trúc, trong sinh hoạt, giao tiếp, ứng xử hằng ngày của con người. Bản sắc văn hóa dân tộc là những biểu hiện giá trị của dân tộc, là cái hồn của dân tộc được biểu hiện trong văn hóa, chi phối dẫn đạo văn hóa. Đó là những yếu tố độc đáo, đặc sắc của một nền văn hóa, biểu hiện “đặc tính”, “cốt cách” của dân tộc.
Bản sắc này tạo lên sức mạnh duy trì và phát triển cộng đồng với tư cách là một dân tộc.