CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Một số khái niệm liên quan đến đề tài 1. Khái niệm về văn hóa a. Văn hóa là gì? Văn hóa là tất cả những giá trị tốt đẹp do con người sáng tạo ra trên nền của thế giới tự nhiên.
Văn hóa do con người sáng tạo ra bằng sức lao động và hoạt động thực tiễn trong đời sống của mình, nó thể hiện trình độ phát triển xã hội trong từng thời kỳ lịch sử nhất định. Văn hóa được dùng với nhiều cách hiểu khác nhau, có thể hiểu khái niệm văn hóa theo nghĩa hẹp và nghĩa rộng: Theo nghĩa rộng, thì văn hóa bao gồm tất cả những sản phẩm con người tạo ra, cho đến phong tục, tín ngưỡng, lối sống. Hay nói cách khác "Văn hóa là những giá trị vật chất, tinh thần do con người sáng tạo ra trong lịch sử" [5]. Những tri thức, các kết quả của hoạt động cải tạo xã hội và tự nhiên là thành phần của văn hóa.
Nhà nhân loại học người Anh Edward Burnett Tylor đã định nghĩa: “Văn hóa hay văn minh hiểu theo nghĩa rộng trong dân tộc học là một tổng thể phức hợp gồm kiến thức, đức tin, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục, và bất cứ những khả năng, tập quán nào mà con người thu nhận được với tư cách là một thành viên của xã hội”. Như vậy, theo cách hiểu này thì văn hóa bao gồm tất cả những lĩnh vực liên quan đến đời sống con người từ tri thức, đức tin, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục, và tập quán. Theo nghĩa hẹp, văn hóa được giới hạn bởi không gian hoặc thời gian, theo chiều sâu hoặc chiều rộng. Giới hạn theo không gian, văn hóa chỉ những đặc thù vùng miền (văn hóa Nam Bộ, văn hóa sông Hồng,….
Giới hạn theo thời gian, văn hóa chỉ những giá trị trong từng giai đoạn (văn hóa Tiền Sử, văn hóa Đông Sơn,…). Theo chiều sâu, văn hóa là tất cả những giá trị tinh 12 hoa nhất (nếp sống văn hóa, văn hóa nghệ thuật,…). Giới hạn theo chiều rộng, văn hóa chỉ những giá trị văn hóa trong từng lĩnh vực (văn hóa ứng xử, văn hóa trường học,…). Theo nghĩa hẹp, ta thấy Văn hóa – vô sở bất tại: Văn hóa - không nơi nào không có.
Điều này đã chứng minh rằng tất cả những sáng tạo của con người trên nền của thế giới tự nhiên đều là văn hóa. Nơi nào có con người nơi đó có văn hóa. Như vậy, có thể thấy rằng văn hoá là tất các những gì tốt đẹp của cuộc sống từ cách ăn, cách mặc, cách giao tiếp, cách hưởng thụ và ngay cả cách sản sinh văn hoá; là trình độ phát triển của con người và của xã hội được biểu hiện trong các kiểu và hình thức tổ chức đời sống và hành động của con người cũng như trong giá trị vật chất và tinh thần mà do con người tạo ra. Và hơn hết văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc kia.
Khi nghiên cứu quy luật vận động và phát triển của xã hội loài người.Ăngghen đã khái quát các hoạt động của xã hội thành hai loại hình hoạt động sản xuất cơ bản đó là sản xuất vật chất và sản xuất tinh thần. Do đó, có hai loại hình văn hóa, đó là văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần. - Văn hóa tinh thần: Văn hóa tinh thần là bao gồm các tư tưởng, giá trị tinh thần, những lý luận mà con người sáng tạo ra trong quá trình sinh sống. Văn hóa tinh thần hay còn gọi là văn hóa phi vật chất là những quan niệm, tín ngưỡng, phong tục, tập quán, giá trị, chuẩn mực, những lý luận mà con người sáng tạo ra trong đời sống tinh thần và hoạt động tinh thần của con người.
Văn hóa tinh thần được tạo ra để phục vụ cho các hoạt động tinh thần như ứng xử, kỹ năng, tri thức, giá trị khoa học nghệ thuật với những nguyên tắc, tiêu chí có tác động chi phối các hoạt động của con người. Văn hóa tinh thần cũng là thị hiếu, nhu cầu về tinh thần và cách thỏa mãn nhu cầu đó. 13 - Văn hóa vật chất: Nền văn hóa còn bao gồm tất cả những sáng tạo của con người thể hiện qua các vật thể, đồ sử dụng, dụng cụ do con người làm ra. Từ các vật thể này, chúng ta có thể đánh giá, nhận xét năng lực của con người đã tạo ra.
Những nhà máy xí nghiệp, toà cao ốc, khu đô thị, những cây cầu, những con đường thẳng tắp, phương tiện giao thông hiện đại, máy móc thiết bị thông minh, đền đài, miếu mạo,. đều là sáng tạo của con người. Ở các nước Hồi giáo, công trình kiến trúc đẹp nhất và hoành tráng nhất thường là thánh đường, trong khi ở các nước Châu Âu, nó lại là trung tâm thương mại. Như vậy, chúng ta có thể thấy văn hóa vật chất phản ánh những giá trị mà nền văn hóa đó coi là quan trọng.
Văn hóa vật chất còn phản ánh sự áp dụng kiến thức văn hóa vào sinh hoạt trong thế giới tự nhiên một cách có hiệu quả. Các đặc trưng và chức năng của văn hóa - Các đặc trưng của văn hóa: + Văn hóa có tính hệ thống: Tính hệ thống của văn hóa giúp tạo ra mối liên hệ giữa các sự kiện văn hóa, phát sinh ra những hiện tượng, quy luật hình thành và phát triển của các sự vật, hiện tượng của văn hóa. + Văn hóa có tính giá trị: Tính giá trị giúp xã hội không ngừng tự hoàn thiện và thích ứng với những biến đổi của môi trường, giúp định hướng xã hội theo các chuẩn mực, làm động lực cho sự phát triển của xã hội. + Văn hóa có tính nhân sinh: Văn hóa trở thành sợi dây nối liền con người với con người và giúp liên kết con người, rộng hơn nữa là gắn kết các dân tộc với nhau với nhau.
+ Văn hóa có tính lịch sử: Văn hóa như sản phẩm của một quá trình lâu dài và được tích lũy qua nhiều thế hệ. Nó như sản phẩm cuối cùng, chỉ ra trình độ phát triển của từng giai đoạn. Tính lịch sử được duy trì bằng truyền thống văn hóa từ đời này sang đời khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác, giúp đảm bảo tính kế thừa của lịch sử. 14 - Chức năng của văn hóa + Chức năng điều chỉnh xã hội: Đó là chức năng giúp cho xã hội duy trì được trạng thái cân bằng, không ngừng hoàn thiện và tự hoàn thiện, thích ứng với những biến đổi của môi trường, xã hội.
Mỗi một dân tộc có những đặc tính văn hóa riêng của mình và chính điều này làm cho mỗi dân tộc có sự khác biệt nhau về văn hóa. Ví dụ như các nước phương Tây đề cao vẻ đẹp khỏe khoắn, rám nắng, khiêu gợi, các nước phương Đông lại đề cao phụ nữ có nhân phẩm, biết ý tứ nơi công cộng, da trắng, môi đỏ, tóc đen, đẹp dịu dàng. Lại có những nếp văn hóa của người Việt ngày trước mà ngày nay, giới trẻ khó có thể duy trì như việc nhuộm răng của phụ nữa Việt Nam, hay tục nối dây của dân tộc Ê đê,. Có những nếp văn hóa được chấp nhận ở một nền văn hóa này nhưng lại không được chấp nhận ở một nền văn hóa khác.
Từ đó, tùy từng giai đoạn, văn hóa thực hiện được chức năng điều chỉnh xã hội. + Chức năng giáo dục: Thông qua các hoạt động, các sản phẩm của mình, văn hóa tác động đến sự phát triển tinh thần, thể chất của con người. Điều đó tạo thành một hệ thống chuẩn mực mà con người hướng tới. Nhờ nó mà văn hóa đóng vai trò quyết định trong việc hình thành nhân cách con người.
Chức năng giáo dục giúp nâng cao nhận thức và phát huy tiềm năng của con người. Con người không chỉ tiếp thu tri thức học thuật. Mà còn cả nhân cách, tư tưởng đạo đức, lối sống trong các mối quan hệ xã hội. Như vậy, với chức năng giáo dục, văn hoá tạo nên sự phát triển liên tục của lịch sử mỗi dân tộc.
Văn hoá duy trì và phát triển bản sắc văn hóa và là cầu nối để gắn kết các dân tộc, các thế hệ. + Chức năng nhận thức: Khả năng nhận thức, ý thức và học hỏi của con người là một sự tiến hóa so với các loài động vật khác trên Trái đất. Văn hóa có tính kế thừa từ đời này sang đời khác giúp con người học hỏi hoặc rút kinh nghiệm từ những giá trị đi trước để hướng tới những điều mới mẻ hơn, tốt đẹp hơn, hình thành một xã hội nhân văn hơn. 15 + Chức năng thẩm mỹ: Chức năng thẩm mỹ là chức năng quan trọng để con người và cộng đồng không ngừng hoàn thiện.
Văn hóa là nét đẹp, làm cho con người đẹp hơn. + Chức năng dự báo: Văn hóa có chức năng động viên, định hướng xã hội phát triển. Hướng tới xã hội tốt đẹp, nhân văn hơn. Đó cũng là mục tiêu của xã hội loài người.
Giúp chất lượng cuộc sống của con người tốt hơn cả về vật chất và tinh thần. + Chức năng giải trí: Trong cuộc sống, ngoài hoạt động lao động và sáng tạo, con người còn có rất nhiều nhu cầu khác, một trong những nhu cầu hàng đầu của con người đó là nhu cầu giải trí. Các hoạt động văn hoá, câu lạc bộ, bảo tàng, lễ hội, ca nhạc,… giúp con người vơi đi những áp lực, nhọc nhằn cũng như vất vả trong cuộc sống hàng ngày. Hay nói cách khác, văn hóa giúp cuộc sống của mỗi người thêm sống động hơn, đẹp đẽ hơn.
Khái niệm về văn hóa truyền thống a. Văn hóa truyền thống là gì? Văn hoá truyền thống là những sáng tạo của con người trong quá trình sinh sống của một cá nhân, một cộng đồng hay một dân tộc đã hình thành từ lâu, mang tính bền vững, được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Tác giả Phan Huy Lê đã nêu rõ “Truyền thống là tập hợp những tư tưởng và tình cảm, những thói quen trong tư duy, lối sống và ứng xử của một cộng đồng người nhất định, được hình thành trong lịch sử và đã trở nên ổn định, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác”.21] Theo Trần Văn Giàu: “Giá trị truyền thống được hiểu là những cái tốt bởi vì những cái tốt mới được gọi là giá trị.