ĐẶT VẤN ĐỀ Viêm tụy cấp (VTC) là tình trạng viêm đột ngột của tuyến tụy trong một thời gian ngắn với các triệu chứng từ nhẹ đến nghiêm trọng có thể đe dọa đến tính mạng. Phần lớn những người bị VTC đều hồi phục hoàn toàn nếu như được điều trị đúng và kịp thời. Trong trường hợp nghiêm trọng, dịch tuyến tụy chạy vào trong ổ bụng khiến tổn thương mô nghiêm trọng, nhiễm trùng dẫn đến suy đa cơ quan [25]. VTC do sỏi mật hoặc VTC do sử dụng nhiều rượu bia là hai nguyên nhân hàng đầu chiếm gần 80% số trường hợp VTC.
Các nguyên nhân khác bao gồm tăng triglycerid, thuốc, bệnh tự miễn, nhiễm trùng, chấn thương, rối loạn chuyển hóa và phẫu thuật. Có tới 15% người bị VTC chưa tìm được nguyên nhân. Theo thống kê trong những năm gần đây, tỷ lệ mắc bệnh viêm tụy cấp tính đã tăng trên toàn cầu lên khoảng 34 trường hợp trên 100.000 người hàng năm [46]. Riêng tại nước Mỹ mỗi năm có khoảng 275.000 người bệnh VTC, tại Việt Nam tuy chưa có thống kê chính thức nhưng trong các nghiên cứu gần đây cho thấy tỉ lệ người bệnh VTC ngày càng gia tăng [7], [12], [14], [16], [37].
Dinh dưỡng luôn đóng một vai trò quan trọng và ảnh hưởng tới quá trình hồi phục của người bệnh, nó được xem là một phần quan trọng trong quá trình điều trị. Đối với người bệnh (NB) VTC việc chọn hình thức nuôi dưỡng và thời điểm bắt đầu nuôi ăn bằng đường tiêu hóa tùy thuộc vào mức độ nặng và các dấu hiệu lâm sàng của người bệnh, dinh dưỡng sớm đường tiêu hóa vẫn được khuyến cáo trên những người bệnh VTC nặng (trong vòng 24 đến 48 giờ) khi đã ổn định huyết động [17], [22], [23]. Dinh dưỡng đường tiêu hóa còn giúp duy trì cấu trúc và chức năng của niêm mạc ruột. Dinh dưỡng hợp lý giúp đảm bảo cân bằng nitơ, duy trì mức glucose và lipid phù hợp.
Người bệnh được cung cấp dinh dưỡng đường tiêu hóa sớm ít gặp biến chứng nhiễm trùng toàn thân cũng như tỉ lệ tử vong thấp so với dinh dưỡng đường tiêu hóa bắt đầu muộn và từ đó có thể rút ngắn thời gian điều trị [12], [42], [45]. Chế độ dinh dưỡng cho NB VTC điều trị nội trú được quản lý chặt chẽ bởi khoa dinh dưỡng lâm sàng tại các bệnh viện. Những NB VTC được chỉ định chế độ dinh dưỡng riêng phù hợp theo diễn biến lâm sàng, tuy nhiên nhiều người bệnh không thể tuân thủ theo chế độ ăn uống được cung cấp với các lý do bao gồm hình thức chế biến không phù hợp với sở thích của NB, thức ăn quá đơn điệu, tâm lý lo sợ cơn đau tái phát khi ăn uống, các triệu chứng chướng bụng, đầy hơi hoặc buồn nôn khiến người bệnh không muốn ăn uống. Một số nghiên cứu về kiến thức và sự tuân thủ chế độ dinh dưỡng ở người bệnh VTC cho thấy rằng hầu hết người bệnh VTC khi nhập viện chưa có kiến thức về bệnh và chế độ dinh dưỡng[35], [44].
Nghiên cứu của Liu Lihua Zhang Xiuli (2003) chỉ ra rằng gần 80% người bệnh VTC khi nhập viện chưa có hiểu biết gì về bệnh cũng như chế độ dinh dưỡng, sau khi được tư vấn giáo dục sức khỏe tại bệnh viện có 50% người bệnh tuân thủ theo tất cả các hướng dẫn. Nghiên cứu của Małgorzata Włochal, Ewelina Swora-Cwynar và các cộng sự (2015) chỉ ra rằng kiến thức về dinh dưỡng của người bệnh viêm tụy là chưa đủ, hầu hết trong số họ có kiến thức lý thuyết về chế độ dinh dưỡng ở những mức độ khác nhau song tỉ lệ tuân thủ chế độ dinh dưỡng chưa cao, nhiều người bệnh gặp khó khăn trong thực hiện chế độ ăn hằng ngày. Thực tế tại Việt Nam, dựa theo các hướng dẫn dinh dưỡng lâm sàng trên thế giới và các thông tư hướng dẫn về dinh dưỡng trong từng bệnh lý cụ thể của Bộ y tế, chế độ dinh dưỡng cho NB VTC tại các bệnh viện đang được chia thành 4 giai đoạn và được khoa dinh dưỡng lâm sàng chuẩn bị riêng cho từng người bệnh nội trú. Tuy nhiên NB VTC khi nhập viện đa phần còn lúng túng, lo lắng khi chưa biết chế độ ăn uống như thế nào là phù hợp, một số ít người bệnh còn tự ý ăn uống khi chưa có chỉ định của Bác sĩ.
Và chế độ ăn uống không phù hợp này ít nhiều sẽ gây ra những ảnh hưởng tới sức khỏe của NB. Sự lo lắng hoặc các hành vi dinh dưỡng chưa phù hợp nêu trên xuất phát từ việc người bệnh chưa có hiểu biết môt cách đầy đủ về tầm quan trọng của chế độ dinh dưỡng do bệnh viện cung cấp tới quá trình hồi phục bệnh và những biến cố không mong muốn có thể xảy ra cho NB từ việc không tuân thủ hoặc từ những quan điểm, hành vi mà người bệnh tự cho rằng là vô hại. Do đó, chúng tôi nhận thấy rằng cần thiết phải có một chương trình giáo dục sức khỏe. (GDSK) về dinh dưỡng cho người bệnh VTC để giúp NB VTC có hiểu biết đúng và đầy đủ về chế độ dinh dưỡng cũng như nâng cao sự tuân thủ chế độ ăn uống của NB VTC khi NB điều trị tại bệnh viện và đặc biệt là sau khi xuất viện người bệnh có thể thực hiện và duy trì được chế độ ăn uống phù hợp để phòng ngừa VTC tái phát.
Vì những lý do trên, chúng tôi quyết định thực hiện nghiên cứu để đánh giá hiệu quả của GDSK về dinh dưỡng cho người bệnh VTC. Thông qua nghiên cứu này, chúng tôi muốn cung cấp bằng chứng về hiệu quả của chương trình tư vấn giáo dục sức khỏe về dinh dưỡng cho người bệnh VTC nhằm mục đính phát triển chương trình tư vấn giáo dục sức khỏe về dinh dưỡng cho người bệnh VTC trong các bệnh viện tại Việt Nam. CÂU HỎI NGHIÊN CỨU Chương trình tư vấn giáo dục sức khỏe về dinh dưỡng cho người bệnh viêm tụy cấp có làm thay đổi kiến thức về dinh dưỡng và hành vi tuân thủ chế độ ăn uống của người bệnh hay không? MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU • Mục tiêu tổng quát - Đánh giá hiệu quả chương trình giáo dục sức khỏe về dinh dưỡng cho người bệnh VTC đang điều trị tại khoa Nội Tiêu Hóa, Bệnh viện Nhân dân Gia Định Thành phố Hồ Chí Minh. • Mục tiêu cụ thể - Xác định tỷ lệ người bệnh viêm tụy cấp có kiến thức đúng về dinh dưỡng trước và sau can thiệp giáo dục sức khỏe.
- Mô tả sự thay đổi hành vi tiêu thụ các chất dinh dưỡng, hành vi tuân thủ chế độ ăn uống của người bệnh viêm tụy cấp trước và sau can thiệp giáo dục sức khỏe. - So sánh điểm trung bình kiến thức dinh dưỡng và hành vi tuân thủ chế độ ăn uống của người bệnh trước và sau can thiệp giáo dục sức khỏe. - Xác định các yếu tố liên quan đến kiến thức dinh dưỡng của người bệnh viêm tụy cấp trước và sau can thiệp giáo dục sức khỏe. TỔNG QUAN TÀI LIỆU Đại cương về Viêm tụy cấp Dịch tễ về Viêm tụy cấp trên thế giới và Việt Nam VTC là một trong những bệnh phổ biến nhất của đường tiêu hóa, dẫn đến gánh nặng rất lớn về cảm xúc, thể chất và tài chính của con người [28], [36].
Tại Hoa Kỳ, VTC là chẩn đoán xuất viện về bệnh lý tiêu hóa phổ biến nhất với chi phí lên đến 2,6 tỷ đô la [28]. Tỷ lệ mắc bệnh viêm tụy trên toàn cầu là 72/100.000 người/năm, với nguyên nhân từ đường mật là phổ biến nhất [43]. Ở Việt Nam trong những năm gần đây qua một số nghiên cứu và thống kê cho thấy viêm tụy cấp ngày càng gia tăng [7]. VTC là một bệnh lý thường gặp tại các khoa Cấp cứu của các bệnh viện, NB thường nhập viện với bệnh cảnh đau bụng cấp.
Khoảng 10 – 15% NB VTC diễn tiến nặng và có khả năng tử vong [8]. Định nghĩa về Viêm tụy cấp VTC là một quá trình tổn thương cấp tính của tụy với các san thương viêm thay đổi ở mô tụy và/hoặc ở các cơ quan xa. Qúa trình viêm của tụy hoặc các mô xung quanh tụy là do hiện tượng hoạt hóa men tụy ngay trong mô tụy, đặc biệt là tripsin. Bệnh thường xảy ra đột ngột với những triệu chứng lâm sàng đa dạng, phức tạp từ viêm tụy cấp nhẹ thể phù đến viêm tụy cấp nặng thể hoại tử với các biến chứng suy đa tạng nặng nề, tỉ lệ tử vong cao [8], [14].
Các nguyên nhân Viêm tụy cấp Viêm tụy cấp ngày càng được tìm hiểu sâu hơn và tìm hiểu rõ hơn về bệnh cảnh lâm sàng, cơ chế của nguyên nhân gây ra. Có rất nhiều nguyên nhân gây ra viêm tụy cấp, đứng hàng đầu là do sỏi mật và nghiện rượu chiếm khoảng 80% trong đó bệnh đường mật do sỏi hoặc giun đũa chiếm 40 – 50%, Rượu chiếm 20 – 30% [8]. Tiếp sau đó là do tăng triglyceride đứng hàng thứ ba. chiếm khoảng 4% VTC (có những nghiên cứu lên tới 7%) [8], [16].
Các nguyên nhân ít gặp hơn có thể do chấn thương vùng bụng từ ngoài hoặc do phẫu thuật, thủ thuật như chụp mật tụy ngược dòng qua nội soi (ERCP). Các bệnh lý gây tổn thương mạch máu nhỏ như bệnh tiểu đường, bệnh Lupút đỏ. Các bệnh có tăng lipid máu như hội chứng thận hư hoặc nhóm các bệnh rối loạn chuyển hoá lipide máu. Các rối loạn chuyển hóa tăng calci huyết như cường tuyến cận giáp.
Nhiễm siêu vi (quai bị, CMV, EBV). Do các thuốc như Azathioprin, 6-MP, Cimetidine, Estrogenes, Furosemide, Methyl-dopa, Tetracycline, dị ứng [8], [14]. Các tiêu chuẩn chẩn đoán Viêm tụy cấp Chẩn đoán xác định Chẩn đoán xác định được chấp nhận khi có 2 trong 3 tiêu chuẩn sau [5], [8]: Đau bụng cấp Amylase máu và/hoặc lipase máu ≥ 3 lần giới hạn trên của trị số bình thường. Hình ảnh điển hình của VTC trên CT scan.
Chẩn đoán phân biệt Bệnh cấp cứu ngoại khoa gây đau bụng cấp: thủng tạng rỗng, đặc biệt là thủng ổ loét dạ dày – tá tràng. Nhồi máu mạc treo, tắc ruột cấp, viêm túi mật cấp, phình động mạch chủ bóc tách. Bệnh nội khoa gây đau bụng cấp: nhồi máu cơ tim, cơn đau do viêm loét dạ dày – tá tràng, viêm phổi, nhiễm toan ceton do đái tháo đường. Hoạt động tiêu hóa và chế độ ăn uống bệnh lý Hoạt động hệ tiêu hóa Hệ tiêu hóa ở người bao gồm đường Tiêu hóa cộng với cơ quan phụ trợ tiêu hóa (lưỡi, tuyến nước bọt, tụy, gan và túi mật).
Trong hệ thống này, quá. trình tiêu hóa có nhiều giai đoạn.