Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO SINH VIÊN NỘI TRÚ 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài 1. Nghiên cứu ở thế giới Chương trình Giá trị sống lần đầu tiên được tổ chức Liên hiệp quốc đưa ra bàn luận vào năm 1995. Khi đó, 186 nước là thành viên của Liên hiệp quốc đã chọn ra 12 giá trị cốt lõi nhất mang tính chung toàn cầu.
Mười hai giá trị sống phổ quát này chủ yếu hướng vào những giá trị tinh thần mà không đề cập đến những giá trị tiền bạc, giàu sang, sức khỏe,. Chương trình này đã được triển khai ở rất nhiều nước khác nhau trên thế giới với mục tiêu chung là nhằm kêu gọi chia sẻ các giá trị vì một thế giới tươi đẹp hơn. Các giá trị cốt lõi này đều nằm trong mỗi con người bất kể sự khác nhau về quốc tịch, màu da hay văn hóa [17]. Vào đầu thập kỷ 90, các tổ chức Liên hiệp quốc như Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), Quỹ Cứu trợ Nhi đồng Liên hiệp quốc (UNICEF), Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hiệp quốc (UNESCO) đã chung sức xây dựng chương trình giáo dục KNS cho thanh thiếu niên.
“Bởi lẽ những thử thách mà trẻ em và thanh niên phải đối mặt rất nhiều và đòi hỏi cao hơn những kỹ năng đọc, viết, tính toán tốt nhất” [16]. Diễn đàn thế giới về giáo dục mọi người họp tại Senegan (2000). Chương trình hành động Dakar đã đề ra 6 mục tiêu, trong đó mục tiêu 3 nói rằng “Mỗi quốc gia phải đảm bảo cho người học được tiếp cận chương trình giáo dục KNS phù hợp”, trong đó “người học” ở đây được hiểu từ trẻ em đến người lớn tuổi, còn “phù hợp” được hiểu là phù hợp với vùng, miền, địa phương và phù hợp với lứa tuổi. Còn trong mục tiêu 6 yêu cầu Khi đánh giá chất lượng giáo dục cần phải đánh giá KNS 6 Luan van của người học.
Như vậy, học kỹ năng sống trở thành quyền của người học và chất lượng giáo dục phải được thể hiện cả trong KNS của người học [6]. Năm 1996 Hội đồng quốc tế về Giáo dục cho thế kỉ XXI của Đại hội đồng giáo dục, khoa học và văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) do Accque Delor làm Chủ tịch đã đưa ra một báo cáo khẳng định vai trò quan trọng của giáo dục đối với sự phát triển tương lai của cá nhân, dân tộc và nhân loại. Báo cáo này nhấn mạnh giáo dục là “kho báu tiềm ẩn”, đồng thời đưa ra một tầm nhìn về giáo dục cho thế kỷ XXI dựa trên 4 trụ cột: Học để biết (Learning to know); Học để làm (Learning to do); Học để cùng chung sống (Learning to live together); Học để tự khẳng định mình (Learning to be). Bốn trụ cột này chính là một cách tiếp cận KNS dựa trên sự kết hợp hài hòa giữa các nhóm kỹ năng nhận thức, kỹ năng thực tiễn (làm việc), kỹ năng xã hội và kỹ năng cá nhân [17].
Từ những năm 90 của thế kỉ XX, thuật ngữ “kỹ năng sống” đã xuất hiện trong một số chương trình giáo dục của UNICEF, trước tiên là chương trình “giáo dục những giá trị sống” với 12 giá trị cơ bản cần giáo dục cho thế hệ trẻ. Những nghiên cứu về KNS trong giai đoạn này mong muốn thống nhất được một quan niệm chung về KNS cũng như đưa ra được một bảng danh mục các KNS cơ bản mà thế hệ trẻ cần có. Phần lớn các công trình nghiên cứu về KNS ở giai đoạn này quan niệm về KNS theo nghĩa hẹp, đồng nhất nó với các kỹ năng xã hội. Dự án do UNESCO tiến hành tại một số nước trong đó có các nước Đông Nam Á là một trong những nghiên cứu có tính hệ thống và tiêu biểu cho hướng nghiên cứu về KNS nêu trên [24].
Do yêu cầu của sự phát triển kinh tế xã hội và xu thế hội nhập cùng phát triển của các quốc gia nên hệ thống giáo dục của các nước đã và đang thay đổi theo định hướng khơi dậy và phát huy tối đa các tiềm năng của người học; đào tạo một thế hệ năng động, sáng tạo, có những năng lực chủ yếu (như năng lực thích ứng, năng lực tự hoàn thiện, năng lực hợp tác, năng lực hoạt động xã hội) để thích ứng với những thay đổi nhanh chóng của xã hội. Theo đó, vấn đề giáo dục KNS cho thế hệ trẻ nói chung, cho học sinh phổ thông nói riêng được đông đảo các nước quan tâm [24]. 7 Luan van Mặc dù, giáo dục KNS cho học sinh đã được nhiều nước quan tâm và cùng xuất phát từ quan niệm chung về KNS của Tổ chức Y tế thế giới hoặc của UNESCO, nhưng quan niệm và nội dung giáo dục KNS ở các nước không giống nhau. Ở một số nước, nội hàm của khái niệm KNS được mở rộng, trong khi một số nước khác xác định nội hàm của khái niệm KNS chỉ gồm những khả năng tâm lí, xã hội.
Quan niệm, nội dung giáo dục KNS được triển khai ở các nước vừa thể hiện cái chung vừa mang tính đặc thù của từng quốc gia. Mặt khác, ngay trong một quốc gia, nội dung giáo dục KNS trong lĩnh vực giáo dục chính quy và không chính quy cũng có sự khác nhau. Trong giáo dục không chính quy ở một số nước, những kỹ năng cơ bản như đọc, viết, nghe, nói được coi là những KNS cơ bản trong khi trong giáo dục chính quy, các KNS cơ bản lại được xác định phong phú hơn theo các lĩnh vực quan hệ của cá nhân. Do phần lớn các quốc gia đều mới bước đầu triển khai giáo dục KNS nên những nghiên cứu lí luận về vấn đề này mặc dù khá phong phú song chưa thật toàn diện và sâu sắc.
Cho đến nay, chưa có quốc gia nào đưa ra được kinh nghiệm hoặc hệ thống tiêu chí đánh giá chất lượng KNS hoàn hảo [24]. Nghiên cứu ở trong nước Lịch sử giáo dục Việt Nam, nội dung giáo dục con người biết đối nhân xử thế, kinh nghiệm làm ăn để đáp ứng những thách thức của thiên tai,… đã được phản ánh khá phong phú qua ca dao, tục ngữ. Trong hệ thống giáo dục thì quan điểm học để làm người, nghĩa là để biết ứng xử với đời đã được coi như một trong những mục tiêu quan trọng của giáo dục. Cho nên giáo dục đã quan tâm cung cấp cho người học những kiến thức, thái độ và kỹ năng cần thiết để chuẩn bị cho người học có khả năng gia nhập cuộc sống xã hội.
Tuy nhiên, những nội dung đó chưa được gọi tên là giáo dục KNS vì xã hội lúc đó chưa chứa đựng những vấn đề mang tính thách thức, nguy cơ và rủi ro như trong xã hội ngày nay. Thuật ngữ “Kỹ năng sống” bắt đầu xuất hiện trong một số chương trình giáo dục của UNICEF ở nước ta vào những năm 1996: “Chương trình giáo dục kỹ năng sống để bảo vệ sức khỏe và phòng chống HIV/AIDS cho thanh thiếu niên trong và ngoài trường”. Từ đó cho đến nay khái niệm “Kỹ năng sống” đã được đề cập trong nhiều chương trình giáo dục khác 8 Luan van nhau cho học sinh trong ngành giáo dục ở cac bậc học dành cho mọi lứa tuổi từ mầm non đến người lớn, từ giáo dục chính quy đến giáo dục thường xuyên, từ giáo dục nhà trường đến giáo dục xã hội và ở gia đình với nhiều nội dung đa dạng khác nhau. Quan niệm về KNS được giới thiệu trong chương trình này chỉ bao gồm những kỹ năng cốt lõi như: kỹ năng tự nhận thức, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng xác định giá trị, kỹ năng ra quyết định, kỹ năng kiên định, kỹ năng đặt mục tiêu,.
nhằm vào các chủ đề giáo dục sức khỏe do các chuyên gia Úc tập huấn. Tham gia chương trình này đầu tiên gồm có các ngành Giáo dục và Hội Chữ thập đỏ. Khái niệm KNS thực sự được hiểu với nội hàm đầy đủ và đa dạng sau Hội thảo “Chất lượng giáo dục và kỹ năng sống” do UNESCO tổ chức từ 23-25 tháng 10 năm 2003 tại Hà Nội. Từ đó, những người làm công tác giáo dục ở Việt Nam đã hiểu đầy đủ hơn về KNS và trách nhiệm phải giáo dục KNS cho người học [6].
Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam đưa ra quan niệm "KNS là các kỹ năng thiết thực mà con người cần đến để có cuộc sống an toàn khỏa mạnh và hiệu quả. Theo họ có những kỹ năng sống cơ bản như: kỹ năng ra quyết định; kỹ năng từ chối; kỹ năng thương thuyết, đám phán; kỹ năng lắng nghe; kỹ năng trình bày; kỹ năng nhận biết;.Phụ nữ cần phải vận dụng những KNS trên để chống bạo lực trong gia đình, để xóa đói giảm nghèo,. Hợp phần Quản lý giáo dục, Tổ chức Hợp tác phát triển và hỗ trợ kỹ thuật vùng Flamăng, Vương quốc Bỉ (VVOB Việt Nam) đã tổ chức hội thảo và xây dựng chương trình, tài liệu tập huấn năm 2011 với chủ đề: Hiệu trưởng trường trung học cơ sở với vấn đề giáo dục giá trị sống, KNS và giao tiếp ứng xử trong quản lý. BGD&ĐT cũng đã phối hợp với VVOB Việt Nam triển khai tổ chức biên tập, xây dựng tài liệu tập huấn: Hiệu trưởng trường trung học với vấn đề giáo dục giá trị sống, KNS và giao tiếp ứng xử trong quản lý, dựa trên cơ sở phát triển cuốn tài liệu tập huấn hiệu trưởng trường trung học cơ sở do VVOB biên soạn năm 2011 [17].
Luận án tiến sĩ của Phan Thanh Vân năm 2010 "Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học phổ thông thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp". Tác giả tập trung khảo sát thực trạng giáo dục KNS cho học sinh trung học phổ thông 9 Luan van thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp. Qua đó đề xuất các biện pháp giáo dục KNS: Tích hợp mục tiêu giáo dục KNS với mục tiêu của hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp; Thiết kế các chủ đề giáo dục KNS phù hợp với nội dung, hoạt động thực hiện chủ đề các hoạt động ngoài giờ lên lớp ở trường THPT; Sử dụng linh hoạt các loại hình hoạt động, các hình thức tổ chức hoạt động.