Chương 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 4, 5 thông qua dạy học môn Kĩ thuật ở Tiểu học 1. Các khái niệm liên quan 1. Kĩ năng Kĩ năng là năng lực hay khả năng chuyên biệt của một cá nhân về một hoặc nhiều khía cạnh nào đó được sử dụng để giải quyết tình huống hay công việc nào đó phát sinh trong cuộc sống. Kĩ năng sống Hiện nay có khá nhiều khái niệm về kĩ năng sống, tuỳ từng góc nhìn khác nhau người ta có những khái niệm về kĩ năng sống khác nhau, chẳng hạn: - Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO): Kĩ năng sống là những kĩ năng thiết thực mà con người cần để có cuộc sống an toàn, khoẻ mạnh.
Đó là những kĩ năng mang tính tâm lí xã hội và kĩ năng giao tiếp được vận dụng trong những tình huống hàng ngày để tương tác một cách có hiệu quả với người khác và giải quyết có hiệu quả những vấn đề, những tình huống của cuộc sống hàng ngày. [7]; [8] - Theo UNICEF: Là cách tiếp cận giúp thay đổi hoặc hình thành hành vi mới. Cách tiếp cận này lưu ý đến sự cân bằng về tiếp thu kiến thức, hình thành thái độ và kỹ năng. [7]; [8] - Theo tổ chức Giáo dục, Khoa học và văn hóa Liên Hợp Quốc (UNESCO), kĩ năng sống là năng lực cá nhân để thực hiện đầy đủ các chức năng và tham gia vào cuộc sống hằng ngày, kĩ năng sống gồm bốn trụ cột của giáo dục đó là: Học để biết, học để làm, học để làm người, học để cùng chung sống.
[7]; [8] Kĩ năng sống là những trải nghiệm có hiệu quả nhất, giúp giải quyết hoặc đáp ứng các nhu cầu cụ thể, trong suốt quá trình tồn tại và phát triển của con người. Nó bao gồm cả hành vi vận động của cơ thể và tư duy trong não bộ của con người, có thể hình thành một cách tự nhiên, thông qua giáo dục hoặc rèn luyện của con người. 7 Như vậy, khái niệm kĩ năng sống không phải là năng lực cá nhân bất biến trong mọi thời đại, mà là những năng lực thích nghi cho mỗi thời đại mà cá nhân đó sống. Bởi vậy, kĩ năng sống vừa mang tính cá nhân, vừa mang tính dân tộc – quốc gia, vừa mang tính xã hội – toàn cầu.
Từ những khái niệm trên, kĩ năng sống trong phạm vi lứa tuổi học sinh thường gắn liền với phạm trù kiến thức, kĩ năng và thái độ mà học sinh được rèn luyện trong quá trình giáo dục. Tổng hợp kết quả giáo dục từ bài học trên lớp và từ những hoạt động ngoài giờ lên lớp, học sinh hình thành được một số kĩ năng sống phù hợp như: Kĩ năng tự nhận thức, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng xác định giá trị, kĩ năng ra quyết định, kĩ năng kiên định, kĩ năng đặt mục tiêu,… Những kĩ năng này bao giờ cũng gắn với một nội dung giáo dục nhất định như: giáo dục bảo vệ môi trường, giáo dục sống an toàn, khoẻ mạnh… 1. Giáo dục kĩ năng sống Giáo dục kĩ năng sống là giáo dục cách sống tích cực trong xã hội hiện đại, xây dựng những hành vi lành mạnh và thay đổi những hành vi, thói quen tiêu cực trên cơ sở giúp học sinh có thái độ, kiến thức, kĩ năng, giá trị cá nhân thích hợp với thực tế xã hội. Mục tiêu cơ bản của giáo dục kĩ năng sống là làm thay đổi hành vi của học sinh, chuyển từ thói quen thụ động, có thể gây rủi ro, dẫn đến hậu quả tiêu cực thành những hành vi mang tính xây dựng tích cực và có hiệu quả để nâng cao chất lượng cuộc sống cá nhân và góp phần phát triển xã hội bền vững.
Khái quát về giáo dục kĩ năng sống 1. Mục tiêu giáo dục kĩ năng sống Kĩ năng sống thúc đẩy phát triển cá nhân và xã hội, có thể nói kĩ năng sống chính là nhịp cầu giúp con người biến kiến thức thành thái độ, hành vi và thói quen tích cực, lành mạnh. Giáo dục kĩ năng sống là yêu cầu cấp thiết đối với thế hệ trẻ. Giáo kĩ năng sống nhằm thực hiện yêu cầu đổi mới giáo dục trong nhà trường ở Tiểu học hiện nay.
Giáo dục kĩ năng sống trong nhà trường hiện nay là xu thế chung của nhiều nước trên thế giới. Trong đó có nước Việt Nam, giáo dục kĩ năng sống được thực hiện qua nhiều môn, trong đó có môn Kĩ thuật lớp 4, 5 ở 8 Tiểu học hình thành ở học sinh nhiều kĩ năng sống. Góp phần cùng môn học khác mở rộng vốn sống, tư duy logic, hình thành nhân cách cho học sinh. Rèn kĩ năng sống cho học sinh giúp các em rèn kĩ năng ứng xử thân thiện trong mọi tình huống; thói quen và kĩ năng làm việc theo nhóm, kĩ năng tự phục vụ cho bản thân, kĩ năng tư duy sáng tạo.
Trang bị cho học sinh những kiến thức, giá trị, thái độ, kĩ năng phù hợp. Hình thành cho học sinh những hành vi, thói quen lành mạnh, tích cực; loại bỏ những hành vi, thói quen tiêu cực. Kĩ năng sống giúp học sinh có khả năng ứng phó phù hợp và linh hoạt trong các tình huống của cuộc sống hàng ngày. Kĩ năng sống giúp học sinh vận dụng tốt kiến thức đã học, làm tăng tính thực hành.
Tạo cơ hội thuận lợi để học sinh thực hiện tốt quyền, bổn phận của mình và phát triển toàn diện về thể chất, trí tuệ, tinh thần và đạo đức. Nhằm đẩy mạnh phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”, đồng thời có sự thống nhất cao việc tăng cường giáo dục kĩ năng sống cho học sinh Tiểu học trong toàn cấp học; trang bị cho học sinh những hành vi, thói quen lành mạnh, tích cực, loại bỏ những hành vi, thói quen tiêu cực trong các mối quan hệ, các tình huống và hoạt động hằng ngày; giúp các em có khả năng làm chủ bản thân, khả năng ứng xử, ứng phó phù hợp, tích cực trước tình huống cuộc sống. Nguyên tắc giáo dục kĩ năng sống [12] - Nguyên tắc tương tác: Kĩ năng sống không thể được hình thành qua việc nghe giảng và tự đọc tài liệu. Cần tổ chức cho học sinh tham gia các hoạt động tương tác với giáo viên và với nhau trong quá trình giáo dục.
Việc nghe giảng và đọc tài liệu chỉ giúp học sinh thay đổi nhận thức về một vấn đề nào đó. Nhiều kĩ năng sống được hình thành trong quá trình học sinh tương tác với bạn cùng học và những người xung quanh (kĩ năng giải quyết vấn đề,.) thông qua hoạt động học tập hoặc các hoạt động giáo dục trong nhà trường. Trong khi tham gia các hoạt động có tính tương tác, học sinh có dịp thể hiện những ý tưởng của mình, xem xét ý tưởng của người khác, được đánh giá và xem xét lại những kinh nghiệm sống của mình trước đây theo một cách nhìn nhận khác. Vì vậy, việc tổ 9 chức các hoạt động giáo dục có tính chất tương tác cao trong nhà trường tạo cơ hội quan trọng để giáo dục kĩ năng sống hiệu quả.
- Nguyên tắc trải nghiệm: Kĩ năng sống chỉ hình thành khi người học được trải nghiệm qua các tình huống thực tế. Học sinh chỉ có kĩ năng khi các em tự làm việc đó, chứ không chỉ nói về việc đó. Kinh nghiệm có được khi học sinh hành động trong các tình huống đa dạng giúp các em dễ dàng sử dụng và điều chỉnh các kĩ năng phù hợp với điều kiện thực tế. Giáo viên cần thiết kế và tổ chức các hoạt động giáo dục trong và ngoài giờ học sao cho học có cơ hội thể hiện ý tưởng cá nhân, tự trải nghiệm và biết phân tích kinh nghiệm sống của chính mình và người khác.
- Nguyên tắc tiến trình: Nguyên tắc giáo dục kĩ năng sống không thể được hình thành trong “ngày một, ngày hai” mà đòi hỏi phải có cả quá trình: Nhận thức - hình thành thái độ - thay đổi hành vi. Đây là một quá trình mà mỗi yếu tố có thể là khởi đầu của một chu trình mới. Do đó nhà giáo dục có thể tác động lên bất kì mắt xích nào của chu trình trên: thay đổi thái độ dẫn đến mong muốn thay đổi nhận thức và hành vi hoặc hành vi thay đổi tạo nên sự thay đổi nhận thức và thái độ. Do đó, các hoạt động giáo dục cần được tổ chức thường xuyên, có kế hoạch trong cả năm học để học sinh có cơ hội rèn luyện, được lặp đi lặp lại những kĩ năng sống quý giá của mình.
- Nguyên tắc thay đổi hành vi: Mục đích cao nhất của giáo dục kĩ năng sống là giúp người học thay đổi hành vi theo hướng tích cực. Giáo dục kĩ năng sống thúc đẩy người học thay đổi hay định hướng lại các giá trị, thái độ và hành động của mình. Thay đổi hành vi, thái độ và giá trị ở từng con người là một quá trình khó khăn, không đồng thời. Có thời điểm người học lại quay trở lại những thái độ, hành vi hoặc giá trị trước.
Do đó các nhà giáo dục cần kiên trì chờ đợi và tổ chức các hoạt động liên tục để học sinh duy trì hành vi mới và có thói quen mới; tạo động lực cho học sinh điều chỉnh hoặc thay đổi giá trị, thái độ và những hành vi trước đây, thích nghi hoặc chấp nhận các giá trị, thái độ và hành vi mới. Giáo viên không nhất thiết phải luôn luôn chỉ rõ mọi việc “hộ” học sinh mà cần tạo điều kiện cho học sinh tự phát hiện những thu nhận mới cho bản thân sau mỗi 10 hoạt động. Giáo viên cần yêu cầu và động viên học sinh chấp nhận những hành vi mới; dạy và rèn luyện các kĩ năng cần thiết để đạt được những hành vi đó; tiếp tục củng cố những kĩ năng mới cho đến khi người tham gia cảm thấy có thể thực hiện được những hành vi lành mạnh. - Nguyên tắc thời gian: Giáo dục kĩ năng sống cần thực hiện ở mọi nơi, mọi lúc và thực hiện càng sớm càng tốt đối với học sinh.
Môi trường giáo dục được tổ chức nhằm tạo cơ hội cho học sinh áp dụng kiến thức và kĩ năng vào các tình huống “thực” trong cuộc sống. Giáo dục kĩ năng sống được thực hiện trong gia đình, trong nhà trường và cộng đồng. Người tổ chức giáo dục kĩ năng sống có thể là bố mẹ, là thầy cô, là bạn cùng học hay các thành viên cộng đồng.