CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC KỸ NĂNG PHÒNG TRÁNH TAI NẠN THƯƠNG TÍCH CHO TRẺ MẪU GIÁO 5-6 TUỔI THÔNG QUA CHẾ ĐỘ SINH HOẠT HÀNG NGÀY 1. Lịch sử nghiên cứu về hoạt động GDKN PTTNTT thông qua chế độ sinh hoạt hằng ngày cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi 1. Một số nghiên cứu về hoạt động GDKN PTTNTT cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi thông qua chế độ sinh hoạt hằng ngày trên thế giới Giáo dục KN phòng tránh TNTT cho trẻ em có vai trò quan trọng trong việc giúp trẻ chủ động phòng ngừa những hậu quả đáng tiếc do TNTT gây ra đối với trẻ. Vì vậy, vấn đề này đã nhận được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà giáo dục học, tâm lý học, xã hội học, các cơ quan, tổ chức Y tế.
trong và ngoài nước.Higgins [1] khi đi nghiên cứu các bằng chứng liên quan đến vấn đề phòng tránh tai nạn và thương tích cho trẻ em ở Anh đã chỉ ra vai trò của việc giáo dục KN phòng tránh TNTT đối với sự phát triển thể chất, tâm lý của trẻ.; Việc giáo dục KN an toàn cho trẻ em và phụ huynh góp phần nâng cao nhận thức của họ về vấn đề TNTT và việc thực hiện hiệu quả các hành vi an toàn. Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc giáo dục KN tự bảo vệ của trẻ mẫu giáo lớn, một nhóm các tác giả ở Nga dựa trên tiêu chí mối quan hệ giữa trẻ em với đối tượng, giữa trẻ với tình huống gây nguy hiểm, đã phân ra 6 nội dung trong chương trình giáo dục KN tự bảo vệ của trẻ, bao gồm: 1. Trẻ em và những người xung quanh; 2. Trẻ em và thiên nhiên; 3.
Trẻ em ở nhà; 4. Sức khoẻ của trẻ em; 5. Những cảm xúc tích cực ở trẻ; 6. Trẻ em trên đường phố.
Mỗi nội dung bao gồm các đề tài nhỏ. Ví dụ: trong nội dung “Đứa trẻ ở nhà”, có các đề tài: Nhận diện người lạ, người quen; Tình huống nguy hiểm trong cuộc sống hằng ngày.[38] Bạch Băng cùng các cộng sự tổng hợp được 60 tình huống dễ gây mất an toàn đối với trẻ và phân loại chúng thành 6 chủ đề, bao gồm: 1. An toàn thân thể; 2. An toàn ngoài xã hội; 3.
An toàn khi vui chơi; 4. An toàn ở môi trường bên ngoài; 5. An toàn trong cuộc sống; 6. An toàn khi gặp thiên tai.
Mỗi chủ đề được xây dựng thành các câu chuyện với những t0ình huống nguy hiểm có thể xảy ra đối với trẻ như: Nghịch lửa, sờ tay vào điện, mở cửa cho người lạ vào nhà, kẹt trong thang máy.[3] Hong Yoon Yeo đưa ra nội dung dạy trẻ tự bảo vệ mình thông qua 45 tình huống thường gặp trong cuộc sống hằng ngày như: tự bảo vệ mình khi đi đến một số địa điểm nguy hiểm (nơi vắng vẻ, khu phố đông đúc, hầm đi bộ, thang máy. ; khi gặp người lạ 7 (tặng quà, có ý định bắt cóc, quấy nhiễu.) hay khi sử dụng điện thoại và internet. Một nhóm giảng viên trường Đại học Sư Phạm Ulianov đã lựa chọn biện pháp trò chơi để giáo dục KN an toàn cho trẻ. Thông qua trò chơi, trẻ được học những mẫu hành vi tự nhiên để xử lý tình huống nguy hiểm.
Trước khi chơi, trẻ sẽ cần phải nói về tình huống đó với những trẻ khác, phân tích lựa chọn hành vi đúng để không dẫn đến một hậu quả đáng tiếc. Đây có thể xem là một trong những biện pháp phù hợp với trẻ, giúp trẻ có cơ hội được tự mình trải nghiệm cách ứng phó hiệu quả với các tình huống nguy hiểm xung quanh [1]. Các nghiên cứu trên cho thấy, phương pháp giáo dục được đánh giá là mang lại hiệu quả cao hơn cả chính là tạo cơ hội cho trẻ được trải nghiệm, tham gia luyện tập và vận dụng những kiến thức đã học vào thực tế cuộc sống một cách an toàn, có hiệu quả. Bàn về phòng ngừa TNTT cho trẻ em, Tổ chức Y tế Thế giới, Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Hoa Kỳ (CDC) đã đề xuất một số chiến lược, kế hoạch hành động, biện pháp nhằm giảm thiểu TNTT cho trẻ phù hợp với điều kiện thực tiễn của mỗi quốc gia như: xác định tầm quan trọng của vấn đề thông qua giám sát và thu thập dữ liệu; tăng cường xây dựng và thực thi pháp luật; thay đổi thiết kế sản phẩm; thay đổi môi trường; giáo dục và phát triển KN; chăm sóc y tế khẩn cấp [37].
Một số nghiên cứu về hoạt động GD kỹ năng phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi thông qua chế độ sinh hoạt hằng ngày ở Việt Nam Khi đề cập đến vai trò của KN sống, tác giả Lê Bích Ngọc đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc giáo dục KN phòng tránh TNTT cho trẻ, “giúp cho trẻ có được những hành vi đảm bảo sự an toàn, khỏe mạnh, thích ứng được với những điều kiện sống thay đổi” [29]. Trương Thị Hoa Bích Dung khẳng định sự cần thiết của việc giáo dục KN sống (“KN sống cần thiết cho mọi người, mọi lứa tuổi và phải được hình thành từ khi còn nhỏ”), trong đó có KN ứng phó với các tình huống khẩn cấp. Theo tác giả, mục đích của giáo dục KN sống là “cung cấp cho các em cách ứng xử cần thiết trong các tình 8 huống bình thường cũng như tình huống khẩn cấp với nhiều sức ép tâm lý của cuộc sống” [29]. Theo tác giả Thái Hà, “Càng sớm càng tốt, kiên trì và liên tục, các bậc phụ huynh hãy từng bước hướng dẫn trẻ nhận thức được và ứng xử đúng trước các tình huống bất ngờ cũng như các mối nguy hiểm rình rập”, “Những vốn hiểu biết này là tối quan trọng vì nó giúp tạo dựng hiệu quả tự vệ và an toàn cho bé” [18].
Trong tài liệu Phòng, chống thiên tai và tai nạn thương tích ở trẻ em của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội đã chỉ ra 8 nội dung giáo dục trẻ phòng tránh TNTT: 1. Phòng tránh ngã và chấn thương do ngã; 2. Phòng tránh tai nạn bỏng và cách xử trí khi bị bỏng; 3. Phòng TNTT do vật sắc nhọn và vật liệu nổ; 4.
Phòng tránh nghẹt thở do dị vật đường thở; 5. Phòng tránh tai nạn đuối nước; 6. Phòng tránh ngộ độc; 7. Phòng tránh TNTT do động vật châm chích, cào, cắn, húc; 8.
Phòng tránh tai nạn giao thông [10]. Cách phân loại nội dung dựa theo tiêu chí trên cũng được đề cập đến trong các nghiên cứu của Nguyễn Võ Kỳ Anh [2], Nguyễn Thế Duy và cộng sự [14]. Là một trong những KN sống quan trọng của trẻ em, việc giáo dục KN phòng tránh TNTT có thể được tiến hành bằng các phương pháp giáo dục KN sống cho trẻ nói chung. Các tác giả Trương Thị Hoa Bích Dung [15], Lê Bích Ngọc [29].
đã đề xuất hệ thống phương pháp, biện pháp giáo dục KN sống cho trẻ khá đa dạng, phong phú. Các phương pháp, biện pháp được đề xuất bao gồm: sắm vai, thảo luận nhóm, giải quyết vấn đề, tạo tình huống, giao nhiệm vụ, trò chơi (trò chơi dân gian, sắm vai, xây dựng, đóng kịch)., và phương pháp giáo dục được đánh giá hiệu quả cao hơn cả chính là tạo cơ hội cho trẻ được trải nghiệm, tham gia luyện tập và vận dụng những kiến thức đã học vào thực tế cuộc sống. Theo tác giả Nguyễn Thị Thu Hà, muốn trẻ nhận biết, trải nghiệm thực tế, rèn luyện và ứng xử đúng với nhiều tình huống có nguy cơ không an toàn, giáo viên cần xây dựng được hệ thống các tình huống, các trò chơi, các bài luyện tập. Qua đó tác giả nhấn mạnh và khẳng định phương pháp thực hành là phương pháp không thể thiếu khi giáo dục trẻ nhận biết và phòng tránh các nguy cơ không an toàn [19]; Để cho trẻ trải nghiệm kĩ năng phòng tránh TNTT một cách an toàn, hiệu quả, các tác giả Nguyễn Thu Huyền và Nguyễn Việt Dũng đi thử nghiệm biện pháp mô phỏng tình huống bằng video hoạt hình với sự hỗ trợ của công nghệ điện toán đám mây để giáo dục KN phòng tránh TNTT cho trẻ 5-6 tuổi [21]; Các tác giả Phan Tú Anh [1], Mai Hiền Lê [24] đề xuất các biện pháp động não, phân tích tình huống, dùng lời (trò chuyện, đàm thoại, thảo luận nhóm nhỏ), thực hành (cho trẻ đọc thơ, kể chuyện, đóng vai, chơi trò chơi, giao việc, trải nghiệm,.) trong giáo dục KN tự bảo vệ cho trẻ mẫu giáo.
Về các chiến lược, chương trình hành động, biện pháp phòng tránh, giảm thiểu TNTT cho trẻ em, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội [10] đã đề xuất một số chiến 9 lược, kế hoạch hành động, biện pháp phù hợp với điều kiện thực tiễn đất nước: thường xuyên giám sát và thu thập dữ liệu; tăng cường xây dựng và thực thi pháp luật; thay đổi thiết kế sản phẩm; thay đổi môi trường; giáo dục và phát triển KN; chăm sóc y tế khẩn cấp. Tác giả Trần Văn Nam với nghiên cứu liên quan đến những giải pháp can thiệp nhằm giảm thiểu hậu quả của TNTT gây ra đối với trẻ em từ 0-15 tuổi [30]; tác giả, Nguyễn Thúy Quỳnh với nội dung phòng tránh TNTT cho học sinh tiểu học [36]… đã chứng minh được hiệu quả rõ rệt của một số giải pháp trong phòng ngừa TNTT đối với học sinh tiểu học như: Tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi; tích hợp giáo dục KN phòng tránh TNTT trong chương trình chính khóa hoặc ngoại khóa; xã hội hóa công tác phòng tránh TNTT; Nâng cao chất lượng chuyên môn cho cán bộ y tế. trong đó giải pháp giáo dục và phát triển KN nhằm nâng cao nhận thức và thay đổi hành vi phòng tránh TNTT được xem là giải pháp có tính chủ động trong việc phòng ngừa TNTT cho trẻ. Tác giả Lê Bích Ngọc cho rằng, việc giáo dục kỹ năng sống cho trẻ có thể được tiến hành thông qua nhiều hình thức khác nhau như: thông qua các hoạt động sống (hoạt động chơi, hoạt động giao tiếp, hoạt động nhận thức, hoạt động ngôn ngữ); thông qua các hoạt động giáo dục (lao động, tạo hình, âm nhạc, làm quen với văn học, khám phá thế giới xung quanh, thể dục); thông qua điều kiện sống của trẻ trong nhà trường và gia đình (các phương tiện, đồ dùng hằng ngày, những thời điểm trong chế độ sinh hoạt hằng ngày: đón, trả trẻ, điểm danh, dạo chơi, cho trẻ ăn, nấu ăn, làm vườn, thăm họ hàng.