phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phần phụ lục, nội dung chính của Luận án gồm 03 chƣơng. Chƣơng 1: Cơ sở lý luận của vấn đề GDHN trong trƣờng phổ thông. Chƣơng 2: Cơ sở thực tiễn của GDHN trong dạy học các môn KHTN ở trƣờng THPT khu vực Trung Nam bộ. Chƣơng 3: Các biện pháp GDHN trong dạy học các môn KHTN ở trƣờng THPT khu vực Trung Nam bộ.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 9 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ GIÁO DỤC HƢỚNG NGHIỆP TRONG TRƢỜNG PHỔ THÔNG 1. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Sơ lƣợc lịch sử phát triển các tƣ tƣởng hƣớng nghiệp Trong xã hội thời xa xƣa, cuộc sống của con ngƣời là thừa hƣởng sự hào phóng từ những sản vật do thiên nhiên ban tặng. Việc chọn “nghề” và thực hành nghề của giới trẻ chỉ là ngẫu nhiên, may rủi và hình nhƣ là “do tạo hóa sắp đặt”, là định mệnh.
Platon - một triết gia Hy Lạp thời cổ đại đã cổ động dân chúng rằng: “Khi tạo ra con người, ông trời đã nhào nặn họ với vàng, bạc, đồng. Người “vàng” là những người làm khoa học, nghệ thuật, làm quản lý. Người “bạc” là những chiến binh. Người “đồng” là thợ thủ công, nông dân và nô lệ” [82].
Xã hội dần phát triển, chủ nghĩa tƣ bản xuất hiện cùng với sự ra đời của đại công trƣờng thủ công và tiếp theo là nền công nghiệp có thị trƣờng lao động rộng lớn với những đòi hỏi ngày càng cao về học vấn, tay nghề của ngƣời lao động. Nhận xét về vấn đề này, C.Mác viết: “Tiếp theo sự phân chia, tách biệt những thao tác khác nhau trong lao động sản xuất, người công nhân cũng được phân chia, phân hóa, nhóm họp theo những năng lực mà họ có được, nhờ đó mà những đặc điểm tự nhiên của người công nhân đã được hình thành dựa trên mãnh đất tự nhiên của sự phân công lao động và về mặt khác, công trường thủ công sẽ phát triển lực lượng lao động theo chính bản chất tự nhiên vốn có của mình chỉ theo một chức năng chuyên biệt [69]. Theo mô tả của C.Mác, rõ ràng là có rất nhiều ngƣời lao động làm những việc không phù hợp với năng lực và đặc điểm tâm lý của mình. Việc phân hóa ngành nghề, phân hóa ngƣời lao động đã âm thầm diễn ra nhƣng ngày càng mạnh mẽ.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 10 Cùng với quá trình phát triển khoa học kỹ thuật và những ứng dụng khoa học trong tổ chức lao động sản xuất ở các nhà máy, các nhà tƣ bản đã nhận thấy yêu cầu ngày càng bức xúc về việc chọn lựa và đào tạo những ngƣời lao động có năng lực đáp ứng yêu cầu cần thiết. Đào tạo chuyên sâu cho những nhóm ngƣời lao động khác nhau và hợp lý hóa thao tác lao động theo dây chuyền sản xuất trong nhà máy dần dần đƣợc sử dụng rộng rãi nhằm gia tăng năng suất lao động, cạnh tranh, chạy theo lợi nhuận… đã dẫn đến việc phải nghiên cứu về quá trình định hƣớng cho con ngƣời tham gia vào một lĩnh vực sản xuất trong một nghề xác định. Vào năm 1849, ở Pháp đã xuất hiện cuốn sách dƣới nhan đề “Hƣớng dẫn lựa chọn nghề”. Năm 1883 ở Mỹ, nhà tâm lý học Ph.
Galton đã trình bày công trình trắc nghiệm (Test) với mục đích lựa chọn nghề. Vào đầu thế kỷ XX, ở Mỹ, Anh, Pháp, Thụy Điển đã xuất hiện các cơ sở dịch vụ hƣớng nghiệp. Ở giai đoạn tiếp theo, chúng ta thấy xuất hiện tổ chức sản xuất theo quan điểm của Taylor. Đây là một đóng góp quan trọng trong phƣơng pháp quan sát và đánh giá công việc trong một hệ thống thống nhất về định mức lao động, trả công lao động, tổ chức chỗ làm việc.
Ở Nga, sau Cách mạng tháng Mƣời và những năm 20, 30 của thế kỷ XX, công tác hƣớng nghiệp đã đƣợc triển khai trên đất nƣớc Xô viết nhằm phục vụ đắc lực cho sự nghiệp công nghiệp hoá thông qua việc đào tạo nguồn nhân lực và đội ngũ cán bộ, đặc biệt là vấn đề lựa chọn nghề cho mỗi công nhân dân của đất nƣớc. Những nhà khoa học và giáo dục khi xem xét vấn đề hƣớng nghiệp đối với sự hình thành nhân cách và ảnh hƣởng của nó tới các hoạt động sản xuất xã hội cho rằng nếu sớm thực hiện GDHN cho thế hệ trẻ trong trƣờng học thì Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 11 đó sẽ là cơ sở để giúp cho họ lựa chọn nghề đúng đắn, có sự phù hợp giữa năng lực, sở thích cá nhân với nhu cầu xã hội. GDHN vì vậy không chỉ đƣợc thực hiện trong các trƣờng đào tạo mà dần trở nên phổ biến và áp dụng rộng rãi trong các trƣờng phổ thông. GDHN của một số nƣớc trên thế giới 1.
Giáo dục KTTH-HN ở nước Nga hậu Xô-Viết Chƣơng trình giáo dục công nghệ học trƣờng phổ thông Liên bang Nga hiện nay bao gồm những nội dung có tính chất giáo dục kỹ thuật tổng hợp không nhằm đào tạo một nghề cụ thể mà theo nhóm công nghệ học, gắn sản xuất với kinh doanh, mang tính hƣớng nghiệp. Nhờ thông qua giáo dục công nghệ học cụ thể, HS đƣợc làm quen, thử sức với từng loại hình sản xuất, đồng thời chú ý vai trò của công nghệ thông tin đƣợc sử dụng trong nền kinh tế hiện đại. Xu thế cải cách các trường học ở Châu Âu cuối thế kỷ XX gắn với hướng nghiệp và đào tạo nghề Vào những năm 70 - 80 thế kỷ trƣớc, các nƣớc Châu Âu lần lƣợt tiến hành cải cách giáo dục từ cấu trúc tổ chức đến nội dung, phƣơng pháp giáo dục và giảng dạy, đáp ứng các yêu cầu phát triển của xã hội công nghiệp dựa vào sự tiến bộ vƣợt bậc của khoa học-công nghệ, nhất là công nghệ thông tin, kinh tế để đạt tới một số chuẩn mực chung về trình độ giáo dục phổ thông và giáo dục nghề và hƣớng nghiệp tại trƣờng phổ thông nhƣ: Giảm bớt tính hàn lâm, tăng cƣờng tỷ trọng kiến thức có ý nghĩa thực dụng, ý nghĩa hƣớng nghiệp trong nhà trƣờng Pháp. Hiện đại hóa quá trình học tập của nhà trƣờng Đức theo hƣớng tạo điều kiện cho HS có thể học nghề ngay khi đang học phổ thông, cung cấp hệ thống và kiến thức khoa học gắn với đào tạo nghề một cách linh hoạt, giảm bớt tính hàn lâm của bậc trung học hoàn chỉnh.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www. Giáo dục hướng nghiệp - lập nghiệp ở các trường học Úc Giáo dục hƣớng nghiệp-lập nghiệp (Career Education) ở những trƣờng học Úc nhằm phát triển những kỹ năng, kiến thức và thái độ thông qua một chƣơng trình học tập đƣợc kế hoạch hóa. Việc giáo dục này giúp cho HS biết đƣa ra những quyết định về việc lựa chọn có tính hƣớng nghiệp-lập nghiệp trong và sau khi học ở trƣờng và tham gia có hiệu quả vào đời sống lao động. Giáo dục hƣớng nghiệp - lập nghiệp ở các nhà trƣờng Úc có 4 nhiệm vụ quan hệ mật thiết với nhau: “Học về bản thân trong mối quan hệ với lao động; Học về thế giới nghề nghiệp; Học về lập kế hoạch và ra quyết định hướng nghiệp - lập nghiệp; Phát triển khả năng triển khai các quyết định về hướng nghiệp và tiến hành thay đổi công việc” [11].
Chuẩn bị nguồn nhân lực và tinh thần hướng nghiệp ở nhà trường Nhật Bản Chƣơng trình cải cách giáo dục đƣợc xây dựng trên cơ sở 2 luận điểm quan trọng: Tăng cƣờng tính linh hoạt và đa dạng trong đánh giá hệ thống giáo dục và thực hiện cải cách giáo dục không chỉ đóng khung trong phạm vi nhà trƣờng, trong hệ thống giáo dục mà còn phải mở rộng tầm nhìn ra phạm vi toàn xã hội theo quan điểm mở cửa, giao lƣu, hội nhập quốc tế. Nhà trƣờng phổ thông Nhật Bản tiến hành rèn luyện khả năng thích ứng của HS qua một số hoạt động nhƣ: Hoạt động nhóm nhỏ và “tinh thần doanh nghiệp Nhật Bản”; Giáo dục lòng trung thành của ngƣời lao động Nhật Bản tƣơng lai trong trƣờng phổ thông; Giáo dục quan hệ lãnh đạo trong trƣờng phổ thông; Hình thành thói quen cần cù, tự giác của ngƣời lao động. Lao động tri thức - Một vấn đề mới trong hướng nghiệp cho HS trường phổ thông tại một số nước phát triển Tại Mỹ cũng nhƣ tại các nƣớc phát triển khác, nhóm tăng trƣởng nhanh nhất trong lực lƣợng lao động là “lao động tri thức”. Trong vài thập kỷ tới, Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 13 các cơ sở đào tạo kỹ thuật viên tri thức sẽ tăng lên nhanh chóng ở cả các nƣớc phát triển và đang phát triển.
- Trƣớc đây, những kỹ năng nghề học đƣợc ở tuổi 17, 18 có thể giúp con ngƣời tác nghiệp suốt đời. Ngƣợc lại, sau này tri thức rất nhanh chóng bị lạc hậu và ngƣời lao động phải thƣờng xuyên quay trở lại nhà trƣờng. Giáo dục thƣờng xuyên sẽ không đƣợc thực hiện theo cách truyền thống nữa mà có thể tiến hành qua các phƣơng tiện viễn thông trực tuyến và diễn ra tại bất cứ nơi nào, từ giảng đƣờng cho đến nhà riêng. GDHN vì vậy cần hƣớng đến đào tạo lao động tri thức và tự đào tạo suốt đời.
Nhà trƣờng phải thay khẩu hiệu: “Đào tạo một lần cho một đời người” bằng khẩu hiệu: “Đào tạo liên tục trong suốt đời người” [13]. Quan điểm của UNESCO về GDHN Theo quan điểm của UNESCO, hƣớng nghiệp đòi hỏi sự đánh giá dựa trên việc kết hợp những tiêu chí về giáo dục và dự báo về nhân cách tƣơng lai. Nhà trƣờng phải có khả năng vẽ lên một bức tranh rõ nét nhất về khả năng của mỗi HS. Vì vậy, cần phải có những nhà tƣ vấn hƣớng nghiệp chuyên môn để giúp HS lựa chọn nghề thích hợp, dự báo những khó khăn trong học tập và giúp giải quyết những vấn đề xã hội khi cần thiết.
GDHN trong các trƣờng phổ thông Việt Nam 1. Bước khởi đầu của GDHN tại các trường học Việt Nam Công tác hƣớng nghiệp đối với sự nghiệp giáo dục ở Việt Nam nói chung và nhà trƣờng phổ thông nói riêng là một phạm trù còn mới mẻ về mặt lý luận và hoạt động thực tiễn. Vào những năm 80 của thế kỷ XX phải kể tới sự đóng góp của các tác giả nhƣ: Phạm Tất Dong, Đặng Danh Ánh, Nguyễn Minh Đƣờng, Nguyễn Văn Hộ đã nêu ra một số cơ sở tâm lý, nội dung của công tác hƣớng nghiệp.