mở đầu cho giá trị học hiện đại khi đƣa ra các phƣơng pháp toán học đo đạc năng lực con ngƣời để phân biệt “cái tốt” và “cái xấu”. Khoa học về GT bắt đầu hoạt động tích cực nhất, từ nửa sau thế kỷ XX., trong đó phải kể đến một số dự án: 10 - Năm 1968 – 1974, Viện nghiên cứu thanh niên của CHND Đức theo cùng một phƣơng pháp, đã tiến hành thu thập thông tin về vấn đề định hƣớng GT và thang GT trên mẫu 1000 học sinh phổ thông và 2000 SV trong suốt thời gian học tập của họ. - Năm 1977 – 1978, Trung tâm nghiên cứu khoa học về thanh niên của Bungari cũng tiến hành một cuộc nghiên cứu quy mô về vấn đề trên. - Năm 1985, Viện nghiên cứu thế giới của Nhật Bản đã lấy mẫu trên 11 quốc gia (Nhật, Mỹ, Anh, CHLB Đức, Pháp, Thụy Sỹ, Thụy Điển, Nam Tƣ, Philipin, Nam Triều Tiên, Brazin) lứa tuổi từ 18 – 24 tuổi, trong khi Viện khảo sát xã hội châu Âu (E.S) điều tra thanh niên lứa tuổi từ 15 – 24 tuổi ở 10 nƣớc châu Âu (Pháp, Bỉ, Hà Lan, CHLB Đức, Ý, Lucxambua, Đan Mạch, Ailen, Anh và Hy Lạp).
Cả hai cuộc điều tra đều chú trọng đến vấn đề GT và định hƣớng giá trị của thanh niên. Các kết luận điều tra khẳng định: GT là vấn đề toàn cầu, định hƣớng GT đúng đắn sẽ giúp thanh niên chuẩn bị tốt để sẵn sàng bƣớc vào cuộc sống. - Năm 1987, ở Hunggari một nhóm nghiên cứu đã tiến hành nghiên cứu về GT và định hƣớng GT của thanh niên, độ tuổi từ 14 – 30. - Năm 1990, cuộc điều tra GT thế giới (WVS) đƣợc tổ chức, Việt Nam bắt đầu tham gia vòng 4 của cuộc điều tra từ năm 2001.
Vòng 5 đƣợc tiến hành từ năm 2005 – 2006 [100]. Từ kết quả của những cuộc điều tra trên, vào cuối những năm thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI, những dự án điều tra GT ở các châu lục nhƣ Hàn thử biểu Đông Á, Hàn thử biểu Nam Á, Hàn thử biểu châu Phi, Hàn thử biểu Mỹ la tinh đƣợc tiến hành liên tiếp. Vào năm 2005 – 2006, Hàn thử biểu Đông Á và Hàn thử biểu Nam Á hợp lại thành Hàn thử biểu châu Á, tiến hành điều tra vòng 2, có sự tham gia của Việt Nam. Năm 2003, Viện nghiên cứu con ngƣời cùng Đại học Glassgow (Xcotlen) cũng đã tiến hành một cuộc điều tra về GT.
Ở Việt Nam, lần đầu tiên có cuộc điều tra GT vào năm 1993 – 1994. Các đề tài cấp nhà nƣớc (KX – 07) trong chƣơng trình nghiên cứu về con ngƣời đều 11 đề cập đến vấn đề GT, hệ GT, định hƣớng GT của con ngƣời Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trƣờng [61, 108, 110]. Ngoài những nghiên cứu của các tập thể, nhiều công trình nghiên cứu nhƣ các bài báo khoa học, các đề tài luận án tiến sĩ, hội thảo, sách…về GT và định hƣớng GT cũng đƣợc tiến hành. Qua khái quát, có thể nhận thấy, những hƣớng chủ yếu đƣợc các tác giả nghiên cứu gồm: - Thứ nhất, hƣớng nghiên cứu các vấn đề lý luận về khoa học GT: có các tác giả nhƣ Phạm Minh Hạc [25, 26, 28, 29], Sƣơng Mai Huỳnh [54], Mạc Văn Trang, Lê Đức Phúc [100], và một số tác giả ngoài nƣớc nhƣ Barr I.
Các tác giả đã trình bày những hiểu biết về GT học, từ quá trình nghiên cứu, đều khẳng định việc nghiên cứu GT là cấp bách trong giai đoạn hiện nay. Đáng chú ý, tác giả Jordan B. [131] với tác phẩm “Competencies and Velues” (Năng lực và giá trị) đã đề cập đến các cơ sở lí luận về GT, chỉ ra mối liên hệ giữa các năng lực của con ngƣời với việc hình thành nên các lợi ích, các GT, phục vụ chính nhu cầu của con ngƣời. Tác giả Phạm Minh Hạc [25] với 24 bài viết trong công trình của mình đã cung cấp cơ sở lý luận quan trọng để đúc kết và xây dựng Hệ giá trị chung của ngƣời Việt Nam trong thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo hƣớng hiện đại, mở cửa hội nhập với khu vực và thế giới.
- Thứ hai, hƣớng nghiên cứu về các GT văn hóa, GT truyền thống có các tác giả: Nguyễn Trọng Chuẩn, Phạm Văn Đức, Hồ Sĩ Quý [9, 10], Trần Khánh Đức [15], Trần Văn Giàu [20], Phạm Minh Hạc [33], Lê Hƣơng [48], Đỗ Huy [53], Đặng Cảnh Khanh [55], Lê Thị Lan [59], Phan Huy Lê, Vũ Minh Giang [61], Hà Nhật Thăng [87], Jusoh Z [132], Lovat T. [137]… Theo hƣớng nghiên cứu này, đáng chú ý là công trình nghiên cứu của Phan Huy Lê và Vũ Minh Giang với đề tài “Các giá trị truyền thống và con ngƣời Việt Nam hiện nay”. Đặt trong mục tiêu chung và hệ thống các đề tài của chƣơng trình KX – 07, đề tài KX – 07 – 02 của của hai tác giả đã nghiên cứu về quá trình hình thành, phát triển và biến đổi của các truyền thống Việt Nam, đánh 12 giá một cách khách quan mặt mạnh mặt yếu của di sản truyền thống, đƣa ra những khuyến nghị về phƣơng hƣớng và giải pháp giáo dục, phát huy các giá trị truyền thống, giải quyết một cách hài hòa mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại [61]. - Thứ ba, hƣớng nghiên cứu xác định thực trạng định hƣớng giá trị của học sinh, sinh viên, thanh niên có các tác giả: Nguyễn Thị Nhân Ái [1], Nguyễn Thị Hoa [41], Phan Thị Mai Hƣơng [52], Trần Thế Linh [63], Đỗ Long [65], Hồ Đắc Hải Miên [71], Phan Tố Oanh [77], Đỗ Thị Hạnh Phúc, Nguyễn Thị Huệ [79], Đào Hiền Phƣơng [80], Vũ Hào Quang [82], Trần Trọng Thủy [94], Thái Duy Tuyên [106], Nguyễn Quang Uẩn [110], Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Thạc, Mạc Văn Trang [111]… Trong đó có các tác giả tìm hiểu về thực trạng định hƣớng giá trị nghề của sinh viên [1, 51, 63, 77, 79, 138].
Nghiên cứu về định hướng GTNN trên SV khối sư phạm, Đỗ Thị Hạnh Phúc và Nguyễn Thị Huệ đã kết luận về thực trạng định hƣớng GTNN của SV là “tƣơng đối phù hợp với các giá trị chung của xã hội, tuy vẫn còn một số sinh viên chƣa thực sự nhận thức đầy đủ về nghề, chƣa yêu thích nghề…” [79]. Tƣơng tự, Trần Thế Linh sau khi nghiên cứu về mức độ hiểu nghề trong chọn nghề của HS đã kết luận: “Nhìn chung, việc lựa chọn nghề của học sinh chƣa thực sự xuất phát từ hiểu biết sâu sắc về nghề…Chọn nghề mà hiểu biết quá ít, thậm chí không hiểu nghề định chọn thì sớm muộn sẽ trở ngại lớn cho hoạt động nghề nghiệp của cá nhân, tạo nên sự hẫng hụt bi quan, chán nản, miễn cƣỡng trong lao động” [63]. Theo hƣớng nghiên cứu này, hầu hết các tác giả đã chỉ ra định hƣớng GT nói chung và GT nghề nói riêng của HS, SV còn hạn chế. Đặc biệt, Nisan M.
bằng nghiên cứu của mình đã chứng minh: định hƣớng GT của mỗi con ngƣời đƣợc hình thành từ rất sớm, khi chúng ta chỉ là những đứa trẻ. Và định hƣớng GT của nó khi lớn lên sẽ thay đổi khi chịu tác động của môi trƣờng sống, đặc biệt là giáo dục [138]. 13 Nhƣ vậy, có thể nói, khi nghiên cứu về GT, các tác giả với nhiều hƣớng nghiên cứu, nhiều công trình nghiên cứu và các kết quả nghiên cứu khác biệt, nhƣng đều thống nhất với nhau ở cách tiếp cận giá trị khi đi từ khái niệm giá trị, đến định hƣớng GT, thang GT, chuẩn GT để xác định con đƣờng, cách thức điều tra, giải thích, dự đoán và kiến nghị về các vấn đề con ngƣời và xã hội thông qua nghiên cứu GT. Một trong những thành công của các nghiên cứu về GT là xây dựng đƣợc tiền đề lý luận cho những nghiên cứu về giáo dục giá trị (GDGT) đƣợc tiến hành đồng thời và sau đó.
GDGT đƣợc coi nhƣ một phƣơng thức nhằm cải tạo thực tiễn, áp dụng kết quả nghiên cứu giá trị vào đời sống xã hội, giữ gìn, phát huy và tạo ra những GT mới cho con ngƣời. Các nghiên cứu về giáo dục giá trị Lịch sử của GDGT đƣợc xác định là bắt đầu ở Mỹ vào năm 1776, khi những ngƣời trong Ban soạn thảo Tuyên ngôn độc lập Mỹ đặt ra trách nhiệm của nhà trƣờng là giáo dục cho thế hệ tƣơng lai các phẩm chất đạo đức, truyền đạt cho họ các GT, đặc biệt là các GT dân chủ. Đầu thế kỷ XX, GDGT ở Mỹ rất đƣợc chú trọng. Vào các năm 1925 – 1929, trƣờng Đại học Sƣ phạm thuộc Đại học Côlômbô đã thực hiện một công trình nghiên cứu về vấn đề này và kết luận: Các chƣơng trình GDGT trong nhà trƣờng ở Mỹ không mang lại hiệu quả [31].
Công trình này mới chỉ tập trung vào việc đánh giá thực trạng giáo dục tính cách, nhƣng nó đã tạo tiền đề quan trọng cho quá trình nghiên cứu GDGT về sau này. Ở châu Á, từ những thập kỷ đầu của thế kỷ XX, vấn đề GDGT cũng đã đƣợc bàn đến. Makiguchi, nhà giáo dục ngƣời Nhật trong cuốn “Giáo dục vì cuộc sống sáng tạo” xuất bản năm 1930, đã nêu lên quan điểm của mình về việc xây dựng một nền giáo dục tam phƣơng với mục đích đào tạo nên những con ngƣời năng động, hạnh phúc, phát triển toàn diện và biết tạo ra giá trị. Các nhà giáo dục cần phải nhận rõ tầm quan trọng của GT đối với đời sống con ngƣời cũng nhƣ việc học của con ngƣời” [69].
14 Một thời gian dài sau khi T. Makiguchi đƣa ra ý tƣởng rất hiện đại của mình, GDGT vẫn là vấn đề bị bỏ ngỏ. Cho đến những thập kỷ gần đây, vấn đề này mới thực sự nóng lên khi các tổ chức quốc tế và các quốc gia đặt mối quan tâm nghiên cứu. Nhiều hoạt động khoa học có liên quan đến GDGT đã đƣợc tiến hành: - Hội nghị khoa học với chủ đề “Đẩy mạnh GDGT đạo đức nhân văn, văn hóa quốc tế” đƣợc tổ chức tại Tôkyô, Nhật Bản vào tháng 2 năm 1994.
Hội nghị đã tổng kết kinh nghiệm GDGT đạo đức nhân văn và thống nhất đƣa ra 8 nhóm giá trị đƣợc xác định trên cơ sở có liên quan đến 8 chủ đề: Quyền con ngƣời; Dân chủ; Hợp tác và Hòa bình; Bảo vệ môi trƣờng; Bảo vệ di sản văn hóa; Bản thân và những ngƣời khác; Tính dân tộc; Tâm linh [87].