Tổng quan luận án

Công trình luận án tiến sĩ chuyên ngành Giáo dục học của tác giả Vũ Thị Yến Nhi mang tên: "Giáo dục giá trị nghề nghiệp cho sinh viên cao đẳng ngành giáo dục mầm non qua thực tập nghề nghiệp".

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả xuất phát từ quan điểm khẳng định vai trò quyết định của người thầy trong việc hình thành và phát triển nhân cách người học, được thể hiện qua tư tưởng giáo dục truyền thống, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của K.D. Ushinsky, các nghị quyết của Đảng (Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII) và Luật Giáo dục năm 2005. Đào tạo giáo viên về bản chất là quá trình hình thành nhân cách nhà giáo dục, mà cốt lõi là hệ thống giá trị nghề nghiệp (GTNN). Trong bối cảnh thực tiễn tại Việt Nam, chất lượng đội ngũ giáo viên mầm non (GVMN) chưa đồng đều; một bộ phận giáo viên chưa nhận thức đúng đắn về vai trò, trách nhiệm, chưa hình thành GTNN phù hợp mà chỉ coi công việc là phương tiện kiếm thu nhập. Tình trạng bạo hành trẻ em tại một số cơ sở giáo dục mầm non chất lượng thấp đã gây bức xúc trong dư luận xã hội, gióng lên hồi chuông cảnh báo về sự suy thoái đạo đức và trách nhiệm nghề nghiệp.

Mặc dù chuẩn đào tạo theo luật định thời điểm đó là trung cấp sư phạm, phần lớn đội ngũ GVMN thực tế được đào tạo ở trình độ cao đẳng. Tuy nhiên, các trường sư phạm đào tạo hệ cao đẳng ngành Giáo dục mầm non (GDMN) chưa xây dựng được chương trình, nội dung và biện pháp giáo dục GTNN một cách cụ thể và có hệ thống. Giảng viên còn lúng túng trong việc tích hợp nội dung này vào quá trình đào tạo. Hoạt động thực tập nghề nghiệp (TTNN) là con đường có ưu thế vượt trội giúp sinh viên (SV) trải nghiệm thực tiễn, chuyển hóa các giá trị chung thành giá trị cá nhân, nhưng cách thức tổ chức giáo dục GTNN qua TTNN như thế nào để đạt hiệu quả vẫn là khoảng trống chưa có lời giải đáp thỏa đáng.

Mục đích nghiên cứu của luận án là đề xuất các biện pháp giáo dục GTNN cho sinh viên cao đẳng ngành GDMN thông qua hoạt động TTNN.

Giả thuyết khoa học được xác định: TTNN là một con đường, một phương tiện có ưu thế to lớn trong việc giáo dục GTNN cho SV sư phạm nói chung và SV sư phạm mầm non nói riêng nếu chương trình TTNN được quán triệt mục tiêu giáo dục GTNN từ nội dung đến cách thức tổ chức, tận dụng các tình huống nghề nghiệp để SV trải nghiệm, đồng thời xây dựng và sử dụng những tấm gương điển hình về nghề nghiệp của giáo viên mầm non ở ngay cơ sở thực hành, thực tập để giáo dục GTNN cho SV.

Luận án thực hiện ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Xác định cơ sở lí luận của việc tổ chức giáo dục GTNN cho sinh viên ngành giáo dục mầm non, làm rõ hệ thống GTNN cần hình thành cho sinh viên cao đẳng ngành giáo dục mầm non ở nước ta trong giai đoạn hiện nay;
  2. Khảo sát thực trạng GTNN của giáo viên mầm non, sinh viên chuyên ngành mầm non và thực trạng giáo dục GTNN cho sinh viên cao đẳng ngành Giáo dục mầm non trong thực tập nghề nghiệp;
  3. Xây dựng và đề xuất một số biện pháp giáo dục GTNN cho sinh viên cao đẳng ngành Giáo dục mầm non qua TTNN; thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng về tính khả thi và hiệu quả của biện pháp giáo dục GTNN cho sinh viên cao đẳng ngành Giáo dục mầm non.

Đối tượng và khách thể nghiên cứu:

  • Khách thể nghiên cứu: Quá trình giáo dục GTNN cho sinh viên mầm non ở trường sư phạm đào tạo GVMN.
  • Đối tượng nghiên cứu: Mối quan hệ giữa hoạt động TTNN và giáo dục GTNN cho sinh viên cao đẳng ngành GDMN.

Giới hạn và phạm vi nghiên cứu:

  • Về nội dung: Đề tài tập trung vào các GTNN cốt lõi của người GVMN trong khảo sát thực tế và tổ chức giáo dục qua 4 phương thức TTNN (kiến tập sư phạm, thực hành sư phạm, thực tập sư phạm, thực tập cuối khóa).
  • Về địa bàn: Khảo sát thực trạng được tiến hành tại một số trường Sư phạm đào tạo cao đẳng GDMN trên địa bàn các tỉnh/thành phố: Hà Nội, Hải Dương, Hưng Yên, Hải Phòng, Thanh Hóa, Nghệ An, Thành phố Hồ Chí Minh; thực nghiệm sư phạm được tiến hành tại Trường Cao đẳng Hải Dương.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tài liệu trong luận án được tác giả phân chia và tổng hợp theo các dòng nghiên cứu chuyên biệt từ lý thuyết nền tảng đến các ứng dụng thực hành:

  1. Các nghiên cứu nền tảng về giá trị:
  • Lịch sử giá trị học bắt đầu từ quan điểm của Protagoras thời Hy Lạp cổ đại ("Con người là thước đo của mọi sự vật"), tiếp nối qua các luận điểm của Immanuel Kant trong tác phẩm Phê phán sự phán đoán (1790) về ba loại phán đoán (khách quan, chủ quan, gu thẩm mỹ), cùng các công trình của Friedrich Nietzsche, David Hume, và Robert S. Hartman (đầu thế kỷ XX - mở đầu giá trị học hiện đại bằng việc đưa ra phương pháp toán học đo đạc năng lực con người).
  • Các chương trình khảo sát giá trị quy mô lớn: Viện nghiên cứu thanh niên CHND Đức (1968–1974, khảo sát 1.000 học sinh và 2.000 SV); Trung tâm nghiên cứu khoa học thanh niên Bungari (1977–1978); Viện nghiên cứu thế giới của Nhật Bản (1985, khảo sát 11 quốc gia); Viện khảo sát xã hội châu Âu (E.S, khảo sát thanh niên 10 nước châu Âu); khảo sát tại Hungary (1987, lứa tuổi 14–30); Cuộc điều tra giá trị thế giới (WVS, khởi động năm 1990, Việt Nam tham gia vòng 4 năm 2001 và vòng 5 năm 2005–2006); các dự án Hàn thử biểu Đông Á, Nam Á, Châu Á (vòng 2 năm 2005–2006 có Việt Nam tham gia); khảo sát của Viện Nghiên cứu Con người phối hợp cùng Đại học Glasgow (2003).
  • Tại Việt Nam, cuộc điều tra giá trị lần đầu tiên được tiến hành vào năm 1993–1994, tiếp đó là các đề tài thuộc chương trình cấp nhà nước KX-07 về nghiên cứu con người trong nền kinh tế thị trường.
  • Các hướng nghiên cứu về giá trị gồm: Hướng lý luận giá trị học (Phạm Minh Hạc, Sương Mai Huỳnh, Mạc Văn Trang, Lê Đức Phúc, Barr I., Jordan B. với tác phẩm Competencies and Values); Hướng nghiên cứu giá trị văn hóa và truyền thống (Nguyễn Trọng Chuẩn, Phạm Văn Đức, Hồ Sĩ Quý, Trần Khánh Đức, Trần Văn Giàu, Lê Hương, Đỗ Huy, Đặng Cảnh Khanh, Lê Thị Lan, Phan Huy Lê và Vũ Minh Giang với đề tài KX-07-02, Hà Nhật Thăng, Jusoh Z., Lovat T.); Hướng nghiên cứu thực trạng định hướng giá trị của học sinh, sinh viên, thanh niên (Nguyễn Thị Nhân Ái, Nguyễn Thị Hoa, Phan Thị Mai Hương, Trần Thế Linh, Đỗ Long, Hồ Đắc Hải Miên, Phan Tố Oanh, Đỗ Thị Hạnh Phúc, Nguyễn Thị Huệ, Đào Hiền Phương, Vũ Hào Quang, Trần Trọng Thủy, Thái Duy Tuyên, Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Thạc, Mạc Văn Trang, Nisan M.).
  1. Các nghiên cứu về giáo dục giá trị (GDGT):
  • Lịch sử GDGT bắt đầu tại Mỹ từ năm 1776, tiếp tục với nghiên cứu của Đại học Sư phạm thuộc Đại học Columbia (1925–1929); tại Nhật Bản với tác phẩm Giáo dục vì cuộc sống sáng tạo (1930) của Tsunesaburo Makiguchi.
  • Các diễn đàn và chương trình quốc tế: Hội nghị khoa học Tokyo (1994, đưa ra 8 nhóm giá trị gắn với 8 chủ đề); Hội nghị tại Philippines (1994, xác định 4 vấn đề: Hòa bình, Quyền con người, Dân chủ, Phát triển bền vững); APEID thuộc UNESCO (hội nghị lần 10 năm 1996 và lần 11 năm 1998/2007); Chương trình Living Values Education Program (LVEP, 1996) với 12 giá trị căn bản; chương trình giáo dục tính cách tại Mỹ với hệ thống 26 giá trị; tài liệu Giá trị trong hành động của SEAMEO INNOTECH (1992); Chương trình giáo dục cho người Philippin (1988).
  • Tại Việt Nam: Đề tài KX-07-04 xác định bản chất GDGT và 10 giá trị cơ bản cần giáo dục cho thế hệ trẻ. Các hướng nghiên cứu cụ thể gồm: GDGT trong nhà trường (Đỗ Ngọc Khanh, Đỗ Long, Kelsey Halbert năm 2009, Lovat T. năm 2006); GDGT văn hóa truyền thống (Nguyễn Duy Bắc, Trần Viết Lưu, Nguyễn Dục Quang, Nguyễn Xuân Thanh, Vũ Thị Thanh, đề tài B2006-37-25 của Viện Chiến lược và Chương trình giáo dục); GDGT đạo đức - nhân văn (Mai Thị Dung, Hà Nhật Thăng, Phạm Huy Thành, Lưu Thu Thủy, V. Sukhomlinsky); GDGT sống và kỹ năng sống (Công văn 463/BGDĐT-GDTX ngày 28/5/2015, Nguyễn Công Khanh, Lê Xuân Tiến).
  1. Các nghiên cứu về giáo dục giá trị nghề nghiệp và đào tạo thực hành sư phạm:
  • Nghiên cứu quốc tế: Dale N. Titus (1994) với chiến lược GDGT 12 điểm tại Mỹ; Đại học Bang Washington với phiếu đánh giá khuynh hướng chuyên nghiệp (PDA) và 3 phương pháp (nêu gương, lý thuyết, mô hình trường phát triển chuyên môn PDS); Đại học Tây Úc; Đại học Sư phạm Vân Nam (Trung Quốc); Tuli F. (học dựa trên kinh nghiệm); Qazi W. và Rawat K. J. (2007–2008, phân tích kỹ năng giảng dạy qua 2 giai đoạn thực tập); Louise S. (nghiên cứu thực tập sư phạm tại New Zealand với 164 SV và GV); Jusoh Z. (Đại học Sultan Zainal Abidin, Malaysia).
  • Nghiên cứu trong nước: Đỗ Ngọc Anh (nghiên cứu GD GTNN cho SV ngành văn hóa - thông tin với 22 giá trị, 3 nhiệm vụ và 4 giải pháp); Nguyễn Hoàng Hải (nghiên cứu GD GTNN cho SV đại học ngành giáo dục tiểu học qua hoạt động thực hành nghiệp vụ sư phạm thường xuyên); Phạm Tất Đông, Phạm Minh Hùng, Lê Thị Quỳnh Nga, Nguyễn Đức Trí, Phạm Văn Chín, Nguyễn Văn Hộ, Bùi Văn Huệ, Kiều Thế Hưng, Phạm Trung Thanh, Nguyễn Thị Lý, Hoàng Lê Minh, Nguyễn Văn Đệ, Vũ Văn Phúc, Phạm Đình Duyên, Nguyễn Trường Giang, Lê Hoàng Hà, Nguyễn Thị Thúy Hường, Nguyễn Thị Thu Hường, Hoàng Đức Thịnh, Lê Xuân Tiến.

Vị trí và khoảng trống luận án giải quyết: Mặc dù các nghiên cứu trước đã đặt nền móng lý luận về giá trị và chỉ ra vai trò của rèn luyện nghiệp vụ sư phạm, các công trình chủ yếu tập trung vào bậc tiểu học, trung học hoặc các ngành ngoài sư phạm mầm non. Vấn đề giáo dục GTNN cho sinh viên cao đẳng ngành GDMN thông qua hoạt động TTNN vẫn chưa được tác giả nào nghiên cứu chuyên sâu và hệ thống. Luận án giải quyết trực tiếp khoảng trống này.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và các khái niệm công cụ

Tác giả luận án xác lập hệ thống khái niệm công cụ làm nền tảng phân tích:

  • Giá trị: Được định nghĩa là tính ích lợi, tính có ý nghĩa của sự vật hiện tượng đối với sự thỏa mãn nhu cầu của con người trong giai đoạn lịch sử xã hội nhất định (phân chia thành giá trị vật chất/tinh thần, giá trị xã hội/cá nhân, hệ giá trị, thang giá trị và giá trị chuẩn).
  • Giá trị nghề nghiệp: Là những phẩm chất, năng lực nghề nghiệp đặc trưng của người lao động trong một nghề, giúp người lao động thực hiện tốt chức năng nghề nghiệp của mình. Tác giả phân biệt rõ "giá trị nghề nghiệp" (phẩm chất, năng lực nội tại của người lao động) với "giá trị của nghề nghiệp" (ích lợi nghề mang lại cho xã hội) và "chuẩn nghề nghiệp" (quy ước, khuôn mẫu hành vi pháp lý/kỹ thuật).
  • Giá trị nghề nghiệp của người GVMN: Là những phẩm chất, năng lực nghề nghiệp đặc trưng của người giáo viên ở bậc học mầm non, giúp họ thực hiện có hiệu quả công việc chăm sóc và giáo dục trẻ em độ tuổi mầm non. GTNN của GVMN cấu thành từ mặt chủ quan (thái độ, tiêu chuẩn lựa chọn của cá nhân/cộng đồng giáo viên) và mặt khách quan (yêu cầu xã hội, chức năng nghề nghiệp, đặc điểm tâm sinh lý trẻ từ 3 tháng đến 6 tuổi).
  • Hệ thống 26 GTNN của người GVMN: Gồm 11 giá trị phẩm chất nghề nghiệp (Yêu nước, Tôn trọng pháp luật, Ý thức chính trị xã hội, Yêu trẻ, Yêu nghề, Trách nhiệm nhà giáo, Kiên trì nhẫn nại, Trung thực, Sẻ chia, Tự giác - tích cực, Tiết kiệm) và 15 giá trị năng lực nghề nghiệp (Tự học hỏi nâng cao trình độ, Kiến thức cơ bản về GDMN, Lập kế hoạch chăm sóc giáo dục trẻ, Tổ chức các hoạt động chăm sóc trẻ, Tổ chức các hoạt động giáo dục trẻ, Làm và sử dụng đồ dùng đồ chơi dạy học, Giao tiếp - ứng xử, Quản lý lớp học, Thích ứng và sáng tạo, Kiến thức cơ bản về ngoại ngữ, Kiến thức cơ bản về tin học, Kiến thức phổ thông về văn hóa - chính trị - kinh tế địa phương, Hợp tác, Cập nhật tri thức kỹ năng và thông tin về ngành, Phát triển nghề nghiệp).
  • Hệ thống 10 GTNN cốt lõi: Gồm 5 phẩm chất (Yêu trẻ, Yêu nghề, Trách nhiệm, Kiên trì nhẫn nại, Trung thực) và 5 năng lực (Chăm sóc trẻ, Giáo dục trẻ, Giao tiếp, Hợp tác, Quản lý lớp học).
  • Giáo dục giá trị: Là quá trình tổ chức, hướng dẫn, kích thích các hoạt động tích cực, tự giác của người được giáo dục nhằm giúp họ biến các giá trị xã hội trở thành hệ thống giá trị cá nhân, phù hợp với mong đợi của xã hội; tác động đồng bộ lên 3 phương diện: nhận thức (lý trí), tình cảm (thái độ) và hành động (hành vi). Khung tiếp cận gồm: tiếp thu sâu sắc, làm sáng tỏ giá trị, phát triển đạo đức, học hành động.
  • Thực tập nghề nghiệp ngành GDMN: Thực hiện theo Quyết định số 16/2007/QĐ-BGDĐT, bao gồm 4 giai đoạn nối tiếp: Kiến tập sư phạm, Thực hành sư phạm, Thực tập sư phạm, Thực tập cuối khóa.

Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu

Phương pháp luận triển khai đề tài dựa trên 3 tiếp cận:

  • Tiếp cận phức hợp và hệ thống: Đặt giáo dục GTNN trong chỉnh thể đào tạo nhân cách sư phạm với sự tương tác giữa mục đích, nội dung, phương pháp, phương tiện và hình thức.
  • Tiếp cận xã hội – lịch sử: Xem xét giáo dục giá trị gắn với bối cảnh phát triển kinh tế, xã hội cụ thể của đất nước theo trục lịch đại và đồng đại.
  • Tiếp cận hoạt động – giá trị – nhân cách: Tổ chức các hoạt động nghề nghiệp đặc thù để sinh viên trải nghiệm, chuyển hóa giá trị xã hội thành giá trị nhân cách.

Phương pháp nghiên cứu cụ thể:

  • Nhóm phương pháp lý luận: Phân tích, tổng hợp, phân loại và hệ thống hóa lý thuyết nhằm xây dựng khung khái niệm công cụ.
  • Nhóm phương pháp thực tiễn:
    • Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: Thu thập dữ liệu từ cán bộ quản lý, giảng viên trường sư phạm, GVMN tại cơ sở và sinh viên cao đẳng ngành GDMN trên địa bàn 7 tỉnh/thành phố (Hà Nội, Hải Dương, Hưng Yên, Hải Phòng, Thanh Hóa, Nghệ An, TP. Hồ Chí Minh).
    • Phương pháp phỏng vấn sâu: Tìm hiểu nguyên nhân thực trạng và đánh giá định tính kết quả can thiệp.
    • Phương pháp quan sát sư phạm và nghiên cứu sản phẩm hoạt động: Đánh giá biểu hiện GTNN qua điểm chấm giáo án và hồ sơ thực tập của sinh viên.
    • Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Thiết kế thực nghiệm có nhóm đối chứng (ĐC) và nhóm thực nghiệm (TN) triển khai tại Trường Cao đẳng Hải Dương qua 2 năm.
  • Phương pháp xử lý số liệu: Sử dụng thống kê toán học để phân tích độ tin cậy thang đo (Cronbach's alpha), thống kê mô tả (tần suất, điểm trung bình, thứ hạng) và kiểm định thống kê suy diễn ($t$-test) so sánh sự khác biệt giữa nhóm TN và ĐC trước và sau can thiệp.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lí luận của giáo dục giá trị nghề nghiệp cho sinh viên cao đẳng ngành giáo dục mầm non qua thực tập nghề nghiệp

Chương 1 tập trung xây dựng nền tảng lý luận cho đề tài. Tác giả phân tích lịch sử nghiên cứu giá trị, GDGT và GD GTNN, khẳng định tính tất yếu của việc giáo dục giá trị trong đào tạo sư phạm. Lao động của người GVMN mang tính đặc thù cao: đối tượng chăm sóc là trẻ em từ 3 tháng đến 6 tuổi có thể trạng non nớt, tâm lý chưa ổn định; thời gian làm việc kéo dài từ 9 đến 10 tiếng/ngày; điều kiện cơ sở vật chất còn nhiều thiếu thốn khiến giáo viên phải tự làm đồ dùng, đồ chơi; trách nhiệm nghề nghiệp lớn nhưng chế độ đãi ngộ chưa tương xứng. Do đó, người giáo viên cần sở hữu hệ thống phẩm chất và năng lực chuyên biệt.

Luận án chuẩn hóa cấu trúc hệ thống GTNN của người GVMN và sàng lọc 10 GTNN cốt lõi:

Nhóm giá trị Toàn bộ các giá trị xác định trong hệ thống (26 GT) Các giá trị cốt lõi được lựa chọn (10 GT)
Giá trị phẩm chất nghề nghiệp (11 giá trị) Yêu nước, Tôn trọng pháp luật, Ý thức chính trị xã hội, Yêu trẻ, Yêu nghề, Trách nhiệm nhà giáo, Kiên trì nhẫn nại, Trung thực, Sẻ chia, Tự giác - tích cực, Tiết kiệm. 1. Yêu trẻ
2. Yêu nghề
3. Trách nhiệm nhà giáo
4. Kiên trì nhẫn nại
5. Trung thực
Giá trị năng lực nghề nghiệp (15 giá trị) Tự học hỏi nâng cao trình độ, Kiến thức cơ bản về GDMN, Lập kế hoạch chăm sóc giáo dục trẻ, Tổ chức các hoạt động chăm sóc trẻ, Tổ chức các hoạt động giáo dục trẻ, Làm và sử dụng đồ dùng đồ chơi dạy học, Giao tiếp - ứng xử, Quản lý lớp học, Thích ứng và sáng tạo, Kiến thức cơ bản về ngoại ngữ, Kiến thức cơ bản về tin học, Kiến thức phổ thông về văn hóa - chính trị - kinh tế địa phương, Hợp tác, Cập nhật tri thức kỹ năng và thông tin về ngành, Phát triển nghề nghiệp. 1. Chăm sóc trẻ (Tổ chức các hoạt động chăm sóc trẻ)
2. Giáo dục trẻ (Tổ chức các hoạt động giáo dục trẻ)
3. Giao tiếp - ứng xử
4. Hợp tác
5. Quản lý lớp học

Chương 1 cũng làm rõ 4 giai đoạn TTNN theo chương trình khung trình độ cao đẳng (Kiến tập sư phạm $\rightarrow$ Thực hành sư phạm $\rightarrow$ Thực tập sư phạm $\rightarrow$ Thực tập cuối khóa), chỉ ra cơ chế chuyển hóa giá trị thông qua sự thống nhất giữa tác động sư phạm của nhà giáo dục và hoạt động tự giáo dục của sinh viên trong môi trường thực tiễn.

Chương 2: Cơ sở thực tiễn của việc đề xuất các biện pháp giáo dục giá trị nghề nghiệp cho sinh viên cao đẳng ngành giáo dục mầm non qua thực tập nghề nghiệp

Chương 2 trình bày kết quả khảo sát thực trạng toàn diện tại 7 tỉnh/thành phố:

  • Đánh giá của GVMN và giảng viên: Đa số GVMN và giảng viên nhận thức được tầm quan trọng của GTNN đối với hoạt động nghề nghiệp (được thể hiện qua Bảng 2.1, Bảng 2.3, Bảng 2.4 và Biểu đồ 2.1, 2.2, 2.6, 2.7). Tuy nhiên, mức độ thường xuyên thực hiện các hoạt động giáo dục GTNN trong dạy học của giảng viên và mức độ triển khai các biện pháp giáo dục qua TTNN còn hạn chế (Bảng 2.5, Bảng 2.6, Biểu đồ 2.8). Hoạt động phối hợp giữa trường sư phạm và cơ sở thực tập mầm non chưa chặt chẽ và thiếu tính thường xuyên (Biểu đồ 2.9, Biểu đồ 2.5).
  • Thực trạng của sinh viên cao đẳng GDMN:
    • Thống kê lý do chọn ngành GDMN cho thấy nhiều sinh viên chọn nghề chưa xuất phát từ sự hiểu biết sâu sắc hoặc tình yêu nghề thực sự (Bảng 2.7, Biểu đồ 2.10). Mức độ yên tâm gắn bó với nghề và khả năng lựa chọn lại nghề của sinh viên còn phân tán (Biểu đồ 2.11).
    • Mức độ tham gia các hoạt động rèn luyện hình thành phẩm chất, năng lực nghề nghiệp chưa đồng đều (Bảng 2.9, Biểu đồ 2.12).
    • Tỷ lệ sinh viên tự đánh giá đạt mức "tốt" ở các GTNN cốt lõi còn khiêm tốn (Biểu đồ 2.13). Đánh giá biểu hiện phẩm chất, năng lực của sinh viên qua nhận xét của GVMN hướng dẫn (Bảng 2.2, Biểu đồ 2.3, 2.4) và qua điểm chấm giáo án thực tế (Bảng 2.10) cho thấy kỹ năng sư phạm và mức độ biểu hiện GTNN của sinh viên còn nhiều điểm yếu.
  • Nguyên nhân: Cán bộ quản lý và giảng viên chưa xây dựng được hệ thống nội dung, quy trình và biện pháp giáo dục GTNN lồng ghép cụ thể vào chương trình TTNN; công tác phối hợp giữa trường sư phạm và trường mầm non còn hình thức.

Chương 3: Biện pháp giáo dục giá trị nghề nghiệp cho sinh viên cao đẳng chuyên ngành giáo dục mầm non qua thực tập nghề nghiệp. Thực nghiệm sư phạm

Chương 3 đề xuất hệ thống biện pháp can thiệp và đánh giá kết quả thực nghiệm:

  • Hệ thống biện pháp đề xuất: Gồm 2 nhóm biện pháp chính:
    • Nhóm biện pháp 1: Điều chỉnh chương trình TTNN theo tiếp cận giáo dục GTNN: Tích hợp chuẩn đầu ra và các mục tiêu giáo dục GTNN vào từng giai đoạn thực tập; xây dựng nội dung rèn luyện gắn với 10 GTNN cốt lõi.
    • Nhóm biện pháp 2: Quy trình hóa việc tổ chức giáo dục GTNN cho SV trong quá trình TTNN: Thiết kế quy trình trải nghiệm các tình huống nghề nghiệp; sử dụng phương pháp nêu gương từ các điển hình tiên tiến là GVMN tại cơ sở thực tập; hướng dẫn sinh viên tự đánh giá và điều chỉnh hành vi theo thang đo giá trị.
  • Kết quả thực nghiệm sư phạm tại Trường Cao đẳng Hải Dương:
    • Mẫu thực nghiệm được phân chia tương đồng thành Nhóm Thực nghiệm (TN) và Nhóm Đối chứng (ĐC) (Bảng 3.1). Thang đo được kiểm định độ tin cậy nội tại (Bảng 3.2).
    • Khảo sát trước thực nghiệm: Điểm trung bình (ĐTB) về Nhận thức, Thái độ, Hành vi đối với các giá trị (như giá trị Yêu trẻ, Năng lực chăm sóc trẻ) giữa Nhóm TN và Nhóm ĐC không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (Bảng 3.3, Bảng 3.4, Biểu đồ 3.1, Biểu đồ 3.2).
    • Khảo sát sau thực nghiệm (đầu ra): Điểm đánh giá Nhận thức, Thái độ và Hành vi của Nhóm TN cao hơn Nhóm ĐC một cách rõ rệt (Bảng 3.5, Bảng 3.6, Biểu đồ 3.3, Biểu đồ 3.4).
    • Kiểm định sự thay đổi qua 2 năm: Nhóm TN có sự tiến bộ vượt bậc và có ý nghĩa thống kê trên cả 3 phương diện Nhận thức, Thái độ, Hành vi (Bảng 3.7), trong khi Nhóm ĐC có mức độ thay đổi chậm hơn (Bảng 3.8). Kết quả này chứng minh tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp đã đề xuất.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án công bố các đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn như sau:

Về mặt lý luận:

  • Bổ sung, làm rõ hệ thống lý luận về giá trị, định hướng giá trị, GDGT và GD GTNN; xác lập định nghĩa khoa học về giáo dục GTNN của người GVMN.
  • Xác định hệ thống 26 GTNN chung và 10 GTNN cốt lõi của người GVMN (gồm 5 phẩm chất: Yêu trẻ, Yêu nghề, Trách nhiệm, Kiên trì nhẫn nại, Trung thực; 5 năng lực: Chăm sóc trẻ, Giáo dục trẻ, Giao tiếp, Hợp tác, Quản lý lớp học).
  • Xác lập mục tiêu, nội dung, phương pháp, cách tiếp cận và con đường giáo dục GTNN cho sinh viên cao đẳng ngành GDMN qua hoạt động TTNN.

Về mặt thực tiễn:

  • Đánh giá toàn diện thực trạng nhận thức của giảng viên, GVMN và sinh viên về GTNN tại 7 tỉnh/thành phố, chỉ ra các nguyên nhân hạn chế trong công tác đào tạo.
  • Đề xuất 2 nhóm biện pháp cụ thể:
    1. Điều chỉnh chương trình TTNN theo tiếp cận giáo dục GTNN;
    2. Quy trình hóa việc tổ chức giáo dục GTNN cho sinh viên trong quá trình TTNN.
  • Kiểm chứng thành công hiệu quả của các biện pháp thông qua thực nghiệm sư phạm đối chứng kéo dài 2 năm tại Trường Cao đẳng Hải Dương.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án (dựa trên phạm vi nghiên cứu):

  • Đối tượng nghiên cứu giới hạn ở trình độ cao đẳng ngành GDMN, chưa khảo sát mở rộng đối với hệ đại học hoặc trung cấp sư phạm mầm non.
  • Khảo sát thực trạng được thực hiện tại 7 tỉnh/thành phố đại diện (Hà Nội, Hải Dương, Hưng Yên, Hải Phòng, Thanh Hóa, Nghệ An, TP. Hồ Chí Minh); việc thực nghiệm sư phạm chỉ triển khai can thiệp tại một đơn vị đào tạo là Trường Cao đẳng Hải Dương.
  • Nội dung can thiệp tập trung trọng tâm vào 10 GTNN cốt lõi và 4 phương thức TTNN theo khung đào tạo hiện hành.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng nghiên cứu quy trình giáo dục GTNN cho sinh viên ngành GDMN ở các bậc đào tạo khác (đặc biệt là bậc đại học theo các khung chuẩn mới).
  • Mở rộng địa bàn thực nghiệm sư phạm trên nhiều cơ sở đào tạo sư phạm ở các vùng miền khác nhau nhằm tăng tính phổ quát.
  • Tiếp tục nghiên cứu sâu các biện pháp giáo dục cho 16 giá trị thành phần còn lại trong hệ thống 26 GTNN của người GVMN.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu học thuật hữu ích cho các đối tượng sau:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành Giáo dục học và Quản lý giáo dục: Tham khảo khung lý thuyết về giá trị học, mô hình chuyển hóa giá trị và phương pháp thiết kế thực nghiệm sư phạm đối chứng.
  • Giảng viên, cán bộ quản lý tại các trường Đại học, Cao đẳng Sư phạm: Sử dụng trực tiếp hệ thống 26 GTNN và 10 GTNN cốt lõi để xây dựng chuẩn đầu ra, điều chỉnh đề cương chi tiết các học phần thực hành, kiến tập và thực tập sư phạm.
  • Cán bộ quản lý tại các trường mầm non và cơ sở thực hành: Sử dụng bộ tiêu chí đánh giá phẩm chất, năng lực và phương pháp hướng dẫn sinh viên thực tập trải nghiệm tình huống nghề nghiệp thực tế.
  • Các phần đáng tham khảo nhất trong văn bản: Bảng cấu trúc hệ thống GTNN (Chương 1), Quy trình tổ chức giáo dục GTNN qua 4 giai đoạn TTNN và hệ thống bảng biểu xử lý thống kê thực nghiệm sư phạm (Chương 3).

Câu hỏi thường gặp

  1. Tác giả cấu trúc hệ thống giá trị nghề nghiệp của người giáo viên mầm non gồm những nhóm nào và bao nhiêu giá trị cụ thể?
    Luận án cấu trúc hệ thống gồm 26 giá trị chia thành 2 nhóm: nhóm Giá trị phẩm chất nghề nghiệp (11 giá trị) và nhóm Giá trị năng lực nghề nghiệp (15 giá trị).

  2. Hệ thống 10 giá trị nghề nghiệp cốt lõi được luận án lựa chọn gồm những giá trị nào?
    Gồm 5 phẩm chất cốt lõi (Yêu trẻ, Yêu nghề, Trách nhiệm nhà giáo, Kiên trì nhẫn nại, Trung thực) và 5 năng lực cốt lõi (Chăm sóc trẻ, Giáo dục trẻ, Giao tiếp - ứng xử, Hợp tác, Quản lý lớp học).

  3. Theo quy định được trích dẫn trong luận án, hoạt động thực tập nghề nghiệp của sinh viên cao đẳng GDMN gồm những giai đoạn nào?
    Theo Quyết định số 16/2007/QĐ-BGDĐT, hoạt động TTNN gồm 4 giai đoạn: Kiến tập sư phạm, Thực hành sư phạm, Thực tập sư phạm và Thực tập cuối khóa.

  4. Luận án đề xuất những nhóm biện pháp nào nhằm giáo dục GTNN cho sinh viên qua thực tập nghề nghiệp?
    Tác giả đề xuất 2 nhóm biện pháp: (1) Nhóm biện pháp điều chỉnh chương trình TTNN theo tiếp cận giáo dục GTNN; (2) Nhóm biện pháp quy trình hóa việc tổ chức giáo dục GTNN cho sinh viên trong quá trình TTNN.

  5. Thực nghiệm sư phạm của luận án được tiến hành ở đâu và sử dụng các phương pháp đo lường nào?
    Thực nghiệm được triển khai tại Trường Cao đẳng Hải Dương trên hai nhóm (Nhóm Thực nghiệm và Nhóm Đối chứng), sử dụng các công cụ: phiếu hỏi, chấm điểm giáo án, kiểm định độ tin cậy thang đo (Cronbach's alpha), thống kê mô tả ĐTB và kiểm định $t$-test so sánh kết quả trước và sau thực nghiệm qua 2 năm.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Vũ Thị Yến Nhi đã giải quyết vấn đề giáo dục giá trị nghề nghiệp cho sinh viên cao đẳng ngành Giáo dục mầm non thông qua hoạt động thực tập nghề nghiệp. Tác giả đã xác lập cơ sở lý luận về hệ thống 26 GTNN và 10 GTNN cốt lõi của người GVMN, đồng thời đánh giá thực trạng công tác đào tạo tại 7 tỉnh/thành phố trên cả nước. Hai nhóm biện pháp điều chỉnh chương trình và quy trình hóa tổ chức giáo dục GTNN được đề xuất đã được kiểm chứng tính khả thi và hiệu quả qua thực nghiệm sư phạm đối chứng kéo dài 2 năm tại Trường Cao đẳng Hải Dương. Công trình là tài liệu tham khảo chuyên môn cho công tác đào tạo giáo viên mầm non tại các trường sư phạm.