phần mở đầu, kết luận và phụ lục đề tài gồm 3 chƣơng: - Chƣơng 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của việc giáo dục giá trị di sản vào trong dạy học. - Chƣơng 2: Giáo dục giá trị di sản tỉnh Thái Nguyên trong dạy học Địa lí 12 - Chƣơng 3: Thực nghiệm sƣ phạm Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN9 http://www.vn NỘI DUNG Chƣơng 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC GIÁO DỤC GIÁ TRỊ DI SẢN TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ 1. Khái niệm về di sản Di sản là giá trị tinh thần và vật chất của văn hóa thế giới hay một quốc gia một dân tộc để lại [36] Di sản là tài sản của mỗi quốc gia, đó là các di chỉ, di tích hay danh thắng chỉ rừng, núi, hồ, sa mạc, tòa nhà, quần thể kiến trúc, văn hóa dân tộc… có những giá trị về tự nhiên, những giá trị về văn hóa vật thể hoặc phi vật thể đƣợc để lại từ xa xƣa và tồn tại cho tới ngày nay [31] Đồng với quan điểm này France.L cũng có định nghĩa về di sản nhƣ sau: “Di sản là những giá trị vật chất, phi vật chất đƣợc lƣu giữ nhiều đời”. Với cách hiểu này ta thƣờng thấy xuất hiện trong các thuật ngữ đƣợc sử dụng phổ biến hiện nay đó là “di sản thế giới” (World Heritage), “di sản thiên nhiên” (Natural Heritage) và “di sản văn hóa” (Cultural Heritage).
Thuật ngữ “di sản” đã đƣợc dùng từ lâu ở Việt Nam và khắp nơi trên thế giới. Tuy nhiên, nó mới chỉ dừng lại ở cách hiểu thứ nhất còn cách hiểu thứ hai thì thuật ngữ “di sản” mới chỉ đƣợc sử dụng trong vài thập niên trở lại đây. Bởi trƣớc khi có “Công ƣớc bảo vệ di sản thế giới về văn hóa và thiên nhiên” gọi tắt là “ Công ƣớc bảo vệ di sản thế giới” đƣợc UNESCO thông qua và có hiệu lực thi hành (12/1975) thì trên thế giới chƣa sử dụng thuật ngữ “di sản” để chỉ những giá trị vật chất và tinh thần mang tầm vóc quốc gia, dân tộc hay nói rộng hơn là của toàn thế giới. UNESCO chia di sản văn hóa thành hai loại: di sản văn hóa vật thể (Physical Culture) và di sản văn hóa phi vật thể (Nonphysical Culture).
Di sản văn hóa vật thể bao gồm những di tích, công trình lịch sử, đền đài cung điện, sách cổ, các tác phẩm văn học dân gian, các mẫu vật, các công cụ sản xuất đã đƣợc phát Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN10 http://www.vn hiện đƣa về lƣu giữ hoặc còn chƣa phát hiện, các di tích danh lam thắng cảnh. Di sản văn hóa phi vật thể là các hình thức âm nhạc, ca múa, sân khấu, ngôn ngữ, truyền thuyết và các sinh hoạt nghi lễ, kinh nghiệm dân gian, bí quyết chữa bệnh, phong tục tập quán…[31] * Di sản văn hóa phi vật thể - Là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, đƣợc lƣu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, đƣợc lƣu truyền bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lƣu giữ, lƣu truyền khác, bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xƣớng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công truyền thống, tri thức về y, dƣợc học cổ truyền, về văn hóa ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác [7] * Di sản văn hoá vật thể - Là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia [7] * Di tích lịch sử - văn hoá - Là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học [7] * Danh lam thắng cảnh - Là cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị lịch sử, thẩm mỹ, khoa học [7] * Di vật - Là hiện vật đƣợc lƣu truyền lại, có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học [7] * Cổ vật - Là hiện vật đƣợc lƣu truyền lại, có giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hoá, khoa học, có từ một trăm năm tuổi trở lên [7] * Bảo tàng - Là thiết chế văn hóa có chức năng sƣu tầm, bảo quản, nghiên cứu, trƣng bày, giới thiệu di sản văn hóa, bằng chứng vật chất về thiên nhiên, con ngƣời và môi Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN11 http://www.vn trƣờng sống của con ngƣời, nhằm phục vụ nhu cầu nghiên cứu, học tập, tham quan và hƣởng thụ văn hóa của công chúng [7] 1. Khái niệm giáo dục di sản - Khái niệm giáo dục thông qua di sản có nghĩa rộng hơn, gồm giáo dục di sản văn hóa (vật thể và phi vật thể), di sản thiên nhiên; giáo dục di sản văn hóa trong đó bao hàm cả giáo dục truyền thống. Giáo dục di sản chính là giáo dục về những di sản xung quanh chúng ta, các di sản xung quanh trƣờng học.
Nơi đâu có làng bản, cộng đồng dân cƣ, ở đó có di sản và những tri thức về di sản, ký ức về di sản, về lịch sử: đó là ngôi làng, miếu thờ hay ngôi nhà của mình; là những thửa ruộng bậc thang hay ruộng thổ canh hốc đá; là các tri thức dân gian về thời tiết, ẩm thực, sản xuất, nghề thủ công, phong tục tập quán. “Di sản quanh ta có nghĩa là di sản của từng địa phƣơng. Với những di sản nhỏ nhất, tƣởng nhƣ chỉ liên quan đến một nhóm cộng đồng thôi nhƣng đó chính là cuộc sống của họ. Những ngƣời sống trên mảnh đất ấy phải hiểu di sản của chính mình, phải biết khai thác di sản của mình cho các mục tiêu khác nhau, trong đó có mục tiêu dạy học [9] 1.
Phƣơng pháp dạy học Hiện nay, thuật ngữ “phƣơng pháp” đƣợc hiểu ở các bình diện khác nhau. Trong bình diện rộng nhất nó đƣợc hiểu là phƣơng pháp luận, thí dụ phƣơng pháp biện chứng, phƣơng pháp siêu hình…bao trùm lên toàn bộ các khoa học, tiếp đó là các phƣơng pháp cụ thể hơn nhƣ: phƣơng pháp lịch sử, phƣơng pháp di truyền, phƣơng pháp cấu trúc…rồi đến các phƣơng pháp cụ thể hơn nữa, nhƣ các phƣơng pháp mô hình, phƣơng pháp toán học, phƣơng pháp thực nghiệm, áp dụng cho một nhóm khoa học, và các đặc thù cho mỗi khoa học cụ thể. “Phƣơng pháp” nói chung là một khái niệm rất trừu tƣợng ví nó không mô tả những trạng thái, những tồn tại tĩnh trong thế giới hiện thực, mà nó chủ yếu mô tả phƣơng hƣớng vận động trong quá trình nhận thức và hoạt động thực tiễn của con ngƣời. Phƣơng pháp là con đƣờng, cách thức tiến hành một việc gì đó.
Phƣơng pháp dạy học là hình thức vận động của một hoạt động đặc thù là: hoạt động dạy học [28] Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN12 http://www.vn PPDH là cách thức triển khai của một hệ thống dạy học đa tầng, đa diện: cho một bậc học, cấp học, ngành học, phƣơng thức học…[28] PPDH đƣợc hiểu là phƣơng pháp triển khai một quá trình dạy học cụ thể. Tức là cách thức hình thành mục đích dạy học, cách thức soạn thảo và triển khai nội dung dạy học, cách thức tổ chức hoạt động dạy và hoạt động học nhằm hiện thức hóa mục đích, nội dung dạy học và cách thức kiểm tra, đánh giá kết quả của quá trình dạy học [28] PPDH là cách thức tiến hành các hoạt động của ngƣời dạy và ngƣời học nhằm thực hiện một nội dung dạy học đã đƣợc xác định [28] Trong dạy học các bộ môn, tích hợp đƣợc hiểu là sự kết hợp, tổ hợp các nội dung từ các môn học, lĩnh vực học tập khác nhau thành một “môn học” mới hoặc lồng ghép các nội dung cần thiết vào những nội dung vốn có của môn học. Tích hợp là một trong những quan điểm giáo dục nhằm nâng cao năng lực của ngƣời học, giúp đào tạo những ngƣời có đầy đủ phẩm chất và năng lực để giải quyết các vấn đề của cuộc sống hiện đại. Trong lí luận dạy học, ngƣời ta phân thành hai nhóm phƣơng pháp: phƣơng pháp dạy học đại cƣơng và phƣơng pháp dạy học bộ môn.
Cho đến nay vẫn chƣa có đƣợc một định nghĩa thống nhất. Có quan niệm cho rằng “Phƣơng pháp dạy học là những cách thức làm việc giữa thầy giáo và học sinh, nhờ đó mà học sinh nắm vững đƣợc kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo, hình thành đƣợc thế giới quan và năng lực”. Cũng có quan niệm cho rằng “ Phƣơng pháp dạy-học là những hình thức kết hợp hoạt động của giáo viên và học sinh hƣớng vào việc đạt một mục đích nào đó ”. Nhìn chung, cách hiểu thứ nhất đƣợc nhiều ngƣời tán thành nhƣng cách hiểu về hai chữ “cách thức” lại rất khác nhau nên kết quả cũng có nhiều hệ thống phƣơng pháp khác nhau.
PPDH đại cƣơng là một mô hình tác dụng tƣơng hỗ giữa ngƣời học và ngƣời dạy nhằm lĩnh hội nội dung học vấn. Có nhiều định nghĩa khác nhau về PPDH.Babanxki, PPDH là cách thức tƣơng tác giữa thầy và trò nhằm giải quyết các nhiệm vụ giáo dƣỡng, giáo dục và phát triển trong quá trình dạy học [27] Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN13 http://www.Lecne, PPDH là một hệ thống những hành động có mục đích của giáo viên nhằm tổ chức hoạt động nhận thức và thực hành của học sinh, đảm bảo học sinh lĩnh hội nội dung học vấn [27] - Theo I.Dverev, PPDH là cách thức hoạt động tƣơng hỗ giữa thầy và trò nhằm đạt đƣợc mục đích dạy học. Hoạt động này đƣợc thể hiện trong việc sử dụng các nguồn nhận thức, các thủ thuật logic, các dạng hoạt động độc lập của học sinh và cách thức điều khiển quá trình nhận thức của thầy giáo [27] Ngoài ra còn nhiều định nghĩa khác nhau, có thể tóm tắt trong 3 dạng cơ bản sau đây: - Theo quan điểm điều khiển học, phƣơng pháp là cách thức tổ chức hoạt động nhận thức của học sinh và điều khiển hoạt động nhận thức của học sinh và điều khiển hoạt động này. - Theo quan điểm logic, phƣơng pháp là những thủ thuật logic đƣợc sử dụng để giúp học sinh nắm kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo một cách tự giác.
- Theo bản chất của nội dung, phƣơng pháp là sự vận động của nội dung dạy học.