Chương 1 TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC GIÁO DỤC GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG TRUNG CẤP CHUYÊN NGHIỆP Ở HÀ NỘI HIỆN NAY. Giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam 1.Giá trị và giá trị đạo đức truyền thống Thuật ngữ “giá trị” ra đời cùng với sự ra đời của triết học; vấn đề “giá trị” đã được đặt ra trong triết học Ấn Độ, Trung Hoa, Hy Lạp thời cổ đại. Đến cuối thế kỉ XVIII, khái niệm “giá trị” xuất hiện gắn liền với việc xem xét lại cách luận chứng truyền thống về đạo đức học đặc trưng cho thời kỳ cổ đại và trung cổ. Đến thế kỉ XIX, khái niệm “giá trị” được đề cập một cách đầy đủ hơn bởi các nhà giá trị học như Lôtxơ, Nitzh, Hacman, Điuây… Theo từ điển triết học giản yếu (dịch) “Giá trị là khái niệm triết học và xã hội học chỉ ý nghĩa của các hiện tượng vật chất cũng như tinh thần có khả năng thoả mãn nhu cầu, phục vụ lợi ích của con người” [53, tr.
Theo Từ điển Bách khoa Toàn thư Xô Viết thì “Giá trị là sự khẳng định hay phủ định ý nghĩa của các đối tượng thế giới xung quanh đơn vị con người, giai cấp, nhóm của toàn bộ xã hội nói chung. Giá trị được xác định không phải bởi bản thân các thuộc tính tự nhiên mà là bởi tính chất cuốn hút (lôi cuốn) của các thuộc tính ấy vào phạm vi hoạt động sống của con người, phạm vi các hứng thú và nhu cầu, các mối quan hệ xã hội, các chuẩn mực và phương thức đánh giá ý nghĩa nói trên được biểu hiện trong các nguyên tắc và chuẩn mực đạo đức, trong lý tưởng tâm thế và mục đích”[70, tr. Còn theo các nhà nghiên cứu Viện Lịch sử kinh điển ở Lai-xích (Đức) thì “Giá trị giống như là điểm tích tụ về tư tưởng của một giai cấp hoặc của một chế độ xã hội nhất định. Điều đó có nghĩa là giá trị thể hiện một cách lịch sử cụ thể các mục tiêu, quy tắc, lý tưởng về lợi ích xã hội, các yêu cầu của 8 z một chế độ xã hội và của một giai cấp nhất định.
Do đó, trong nhiều trường hợp giá trị là định hướng phát triển cơ bản trong đời sống tinh thần nhân loại trong mỗi giai đoạn lịch sử nhất định” [29, tr. Ở Việt Nam, đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về giá trị và đã đưa ra những quan điểm, những định nghĩa khác nhau. Song, ở đây chúng tôi thống nhất với quan điểm: “Giá trị trước hết là một phạm trù triết học dùng để chỉ sự đánh giá những thành quả lao động sáng tạo vật chất và tinh thần của con người, nó có tác dụng định hướng, đánh giá và điều chỉnh các hoạt động của xã hội nhằm vươn tới cái đúng, cái tốt, cái đẹp thúc đẩy sự tiến bộ xã hội”[60,tr. Như vậy, giá trị là tất cả những gì mang ý nghĩa tích cực, gắn liền với cái hay, cái đúng, cái đẹp và có khả năng định hướng tích cực cho hành động của con người theo hướng Chân - Thiện – Mỹ, góp phần vào sự phát triển của xã hội.
Nguyễn Trọng Chuẩn, trong “Vấn đề khai thác các giá trị truyền thống vì mục tiêu phát triển” khẳng định: “Nói đến giá trị tức là muốn khẳng định mặt tích cực, mặt chính diện, nghĩa là đã bao hàm quan điểm coi giá trị gắn liền với cái đúng, cái tốt, cái hay, cái đẹp; là nói đến cái có khả năng thôi thúc con người hành động và vươn tới” [9, tr. Giá trị rất phong phú và đa dạng, do vậy trên thực tế cũng có rất nhiều cách phân loại. Căn cứ vào lĩnh vực hoạt động, có giá trị kinh tế, giá trị khoa học…; căn cứ vào không gian, có giá trị nội sinh và giá trị ngoại nhập; căn cứ vào thời gian, có giá trị truyền thống và giá trị hiện đại; căn cứ vào tính chất chung nhất của giá trị, có hai loại là giá trị vật chất và giá trị tinh thần. Giá trị vật chất thể hiện rõ nét trong đời sống kinh tế - xã hội, gắn bó trực tiếp với tồn tại xã hội, quyết định sự tồn tại, phát triển của xã hội loài người.
Giá trị vật chất là cơ sở sản sinh các giá trị tinh thần, suy cho cùng nó quyết định nội dung, tính chất, phương hướng phát triển của giá trị tinh thần. Giá trị tinh thần thể hiện trong lĩnh vực ý thức xã hội, nó là những phẩm chất 9 z đặc biệt về trí tuệ, tình cảm, ý chí… được thể hiện trên các lĩnh vực tư tưởng, đạo đức, văn hóa, khoa học, nghệ thuật, phong tục tập quán… Giá trị đạo đức là một bộ phận trong hệ giá trị tinh thần của đời sống xã hội, được con người lựa chọn nhằm điều chỉnh và đánh giá hành vi ứng xử giữa con người với con người, con người với xã hội. Chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội. Với tư cách là yếu tố cấu thành hệ thống các giá trị tinh thần của đời sống xã hội, giá trị đạo đức được xác định là những chuẩn mực, những khuôn mẫu lý tưởng, những quy tắc ứng xử nhằm điều chỉnh và chuẩn hoá hành vi con người.
Tuy nhiên, giá trị đạo đức cũng không nhất thành, bất biến mà có biến đổi theo sự biến đổi của đời sống xã hội. Về khái niệm “truyền thống”, theo gốc từ Latinh được viết là “Trađio” nguyên nghĩa của nó là “truyền lại”, “giao lại”, “nhường lại” và “phân phát”. Ở Việt Nam, cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu về “truyền thống”. Trần Văn Giàu, “Truyền thống là những đức tính hay những thói tục kéo dài nhiều thế hệ, nhiều thời kỳ lịch sử và hiện có nhiều tác dụng, tác dụng đó có thể tích cực cũng có thể tiêu cực”[23, tr.TS Nguyễn Trọng Chuẩn thì cho rằng “Theo nghĩa tổng quát nhất, truyền thống đó là những yếu tố di tồn của văn hóa, xã hội thể hiện trong chuẩn mực hành vi, tư tưởng, phong tục tập quán, thói quen, lối sống và cách ứng xử của một cộng đồng người được hình thành trong lịch sử và đã trở nên ổn định, được truyền từ đời này sang đời khác và được lưu giữ lâu dài”[10, tr.
Như vậy, có thể coi truyền thống dân tộc là phức hợp những tư tưởng, tình cảm, phong tục tập quán, thói quen, lối sống, ý chí… của chính dân tộc đó. Nó được hình thành trong quá trình lịch sử lâu dài, đã trở nên ổn định mang đặc trưng dân tộc và truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Truyền thống là một bộ phận của ý thức xã hội mà ý thức xã hội lại luôn chịu sự quy định của tồn tại xã hội. Bởi vậy, truyền thống của một dân tộc không phải tự nhiên mà có, cũng không phải do con người tự lựa chọn cho mình.
Nó được hình thành, được quy định bởi chính điều kiện lịch sử, kinh tế, xã hội mà dân 10 z tộc đó đã trải qua. Song phải thừa nhận rằng, truyền thống là một trong những yếu tố bền vững nhất, khó thay đổi nhất trong ý thức xã hội, cho dù tồn tại xã hội đã thay đổi. Chính vì tính bền vững, tính bảo thủ của truyền thống, nên trong mỗi thời điểm nhất định, bao giờ nó cũng mang tính hai mặt: mặt giá trị và mặt phản giá trị. Có những truyền thống tích cực tạo ra được sức mạnh cho dân tộc, lại có những truyền thống tiêu cực cản trở sự phát triển của dân tộc; có những truyền thống trước đây có giá trị tích cực, nhưng khi điều kiện lịch sử - xã hội thay đổi, nó không còn giá trị nữa, thậm chí trở thành sức cản rất lớn.
Về vấn đề này, trong tác phẩm “Ngày 18 tháng sương mù của Lui Bônapáctơ”, C.Mác đã viết: “Truyền thống của tất cả những thế hệ đã chết đè nặng như quả núi lên đầu óc những người đang sống”. Do vậy, không nên quan niệm truyền thống nào cũng tốt đẹp, mà từ những điều đã trình bày trên, ta cần lưu ý, có hai loại truyền thống: cái lạc hậu, lỗi thời - cần khắc phục; cái tạo nên giá trị và bản sắc - cần kế thừa, phát huy và phát triển. Cái tạo nên giá trị và bản sắc – đó chính là các giá trị truyền thống. Vì vậy, “Khi nói đến giá trị truyền thống thì hàm ý đã muốn nói tới những giá trị tương đối ổn định, tới những giá trị là tốt đẹp, là tích cực, là tiêu biểu cho bản sắc dân tộc; có khả năng truyền lại qua không gian, thời gian, những gì cần phải bảo vệ và phát triển”[11, tr.
Giá trị truyền thống tiêu biểu cho bản sắc dân tộc, tuy vậy, nó vẫn biến đổi chứ không phải nhất thành bất biến. Sự biến đổi đó diễn ra nhanh hay chậm, tùy thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó điều kiện kinh tế - xã hội là quan trọng. Giá trị đạo đức truyền thống là một thành tố cấu thành hệ giá trị tinh thần của mỗi dân tộc; nó là nhân lõi, là sức sống bên trong của dân tộc. Nói đến giá trị đạo đức truyền thống là nói đến những chuẩn mực đạo đức tốt đẹp, tiêu biểu của một dân tộc được chắt lọc, lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Cho nên khi nói đến giá trị đạo đức truyền thống cũng là nói đến những giá trị đạo đức được hình thành và phát triển trong quá trình dựng nước và giữ nước của mỗi dân tộc, nó có tính “di truyền xã hội”. Các giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam được thử thách qua nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau; nó được hun đúc trong suốt quá trình 11 z đấu tranh dựng nước và giữ nước của nhân dân ta. Vượt qua những diễn biến phức tạp của lịch sử dân tộc, các giá trị đạo đức truyền thống đó khẳng định sức sống mãnh liệt của mình. Hơn thế nữa, các giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc còn được sử dụng như một thứ vũ khí sắc bén, tạo ra một sức mạnh vô cùng to lớn, đóng góp vào lịch sử mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước.
Các giá trị đạo đức truyền thống đã ăn sâu vào máu thịt con người Việt Nam, tạo nên một sức mạnh phi thường, có khả năng “đề kháng” và đấu tranh mạnh mẽ chống lại mọi kẻ thù xâm lược qua nhiều thế kỉ.