Chương 1. Những vấn đề lý luận về giao dịch góp vốn thành lập công ty bằng quyền sử dụng đất Chương 2. Thực trạng pháp luật về giao dịch góp vốn thành lập công ty bằng quyền sử dụng đất và thực tiễn áp dụng Chương 3. Hoàn thiện pháp luật và kinh nghiệm áp dụng đối với tỉnh Đắk Lắk về góp vốn thành lập công ty bằng quyền sử dụng đất.
NHỮNG VẤN ĐÈ LÝ LUẬN VÈ GIAO DỊCH • GÓP VỐN THÀNH LẬP • CÔNG TY BẰNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐÁT 1. Khái niệm, vai trò và đặc điểm của giao dịch góp vốn thành lập công ty bằng quyền sử dụng đất 1. Khái niệm, đặc điểm và băn chất pháp lý của góp vốn thành lập công ty Công ty có nhiều hình thức khác nhau theo những căn cứ phân loại khác nhau. Căn cứ vào số lượng thành viên, có công ty một thành viên và công ty nhiều thành viên.
Căn cứ vào chế độ trách nhiệm của thành viên công ty, có các hình thức công ty sau: Công ty hợp danh; Công ty hợp vốn đơn giản; Công ty cồ phần; Công trách nhiệm hữu hạn; Công ty hợp vốn cổ phần. [7] Căn cứ vào mối quan hệ trong công ty, có công ty đối nhân và công ty đối vốn. Căn cứ vào quốc tịch của công ty, có công ty nước ngoài và công ty trong nước. Các loại công ty được phân loại như thế có sự khác nhau về các qui định điều chỉnh ở những mức độ nhất định.
Ví dụ: góp vốn thành lập công ty nước ngoài liên quan tới qui chế đầu tư ra nước ngoài và có những điều kiện đặc biệt như không thể đầu tư bằng cách góp vốn bằng quyền sử dụng đất. Phân loại công ty như thế cũng có ảnh hưởng tới định nghĩa về công ty. Chẳng hạn như sau: “Công ty được hiểu là sự liên kết của hai hay nhiều cả nhân bằng một sự kiện pháp lý, nhằm tiến hành để đạt được một mục tiêu chung nào ító”.180] Định nghĩa này không có công ty một 5 thành viên trong đó và không nói tới mục đích kinh doanh của việc thành lập công ty. Trong luận văn này, công ty được hiểu là: “một thực thế kinh doanh có tư cách pháp nhãn được tô chức và thành lập theo qui định của pháp luật.
Như vậy công ty bao gồm được tất cả các hình thức theo các cách phân loại nêu trên'. Công ty là một pháp nhân, do đó nó cũng có sản nghiệp giống một cá nhân. Tài sản khởi đầu để tạo nên sản nghiệp của công ty được hình thành từ việc góp vốn của các thành viên. Do đó góp thành lập công ty là một vấn đề căn bản nhất của công ty.
Một công ty không thể ra đời và không the hoạt động nếu không có vốn. vốn trước hết để trang trải các chi phí phát sinh trong quá trình thành lập như làm hồ sơ đăng ký kinh doanh, nghiên cứu thị trường, thuê trụ sở. Sau khi công ty có tư cách pháp nhân đề hoạt động, hàng loạt các yêu cầu chi tiêu đặt ra như mua sắm trang thiết bị, thuê nhân viên, lao động, chi phí sản xuất và hoạt đông quản lý. Vốn góp là yếu tố cực kỳ quan trọng không thể thiếu khi thành lập bất kỳ loại hình doanh nghiệp nào.
Nó không những quyết định sự sống còn của doanh nghiệp mà còn thể hiện khả năng gánh chịu nghĩa vụ pháp lý của doanh nghiệp, quyết định quyền, nghĩa vụ của các chủ sở hữu, chủ đầu tư của công ty. Thế nhưng cỏ thể nói rằng, từ trước đến nay, ở nước ta cũng như các nước khác chưa từng có một đạo luật hay văn bản pháp luật nào quy định riêng các vấn đề vốn của doanh nghiệp. Trên thực tế, Nhà nước ta đã có khá nhiều các văn bản quy phạm pháp luật quy định về chế độ tài chính của doanh nghiệp, nhung đối tượng điều chỉnh của những văn bản này là doanh nghiệp và nội dung điều chỉnh là qúa trình sử dụng tài chính đúng mục đích, hiệu quả và lành mạnh của doanh nghiệp. Điều này có nghĩa là các vấn đề liên quan đến vốn của doanh nghiệp như cơ chế góp vốn, hình thành vốn, quyền, nghĩa vụ 6 của các chú sở hữu vôn, quyên sử dụng vôn.thì các văn bản hiện hành vân đang còn bở ngỏ.
Vì vậy từ giấy đề nghị đăng ký doanh nghiệp và điều lệ công ty theo Luật Doanh nghiệp năm 2020 tại Điều 23 và Điều 24 đều yêu cầu phải ghi rõ vốn điều lệ của công ty. Điều 4 (khoản 34), Luật Doanh nghiệp năm 2020 đưa ra định nghĩa: “Vốn điều lệ là tỏng giá trị tài sản do các thành viên công ty, chủ sở hữu công ty đã góp hoặc cam kết góp khi thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn, cóng ty hợp danh; là tông mệnh giả cô phần đã bản hoặc được đăng ký mua khi thành lập công ty cô phần". Góp vốn được Luật Doanh nghiệp năm 2020 (Điều 4, khoản 18) hiểu như sau: “Góp vốn là việc góp tài sàn để tạo thành vốn điều lệ của công ty, bao gồm góp vốn để thành lập công ty hoặc góp thêm vốn điều lệ của công ty đã được thành lập”. Định nghĩa này đã xác định có hai loại góp vốn là góp vốn để thành lập công ty và góp vốn để mở rộng thêm vốn của công ty.
Tuy nhiên định nghĩa này không nói tới nhận thức pháp lý về góp vốn, tức là không nói tói bản chất pháp lý của góp vốn. Bản chất pháp lý của góp vốn gắn với bản chất pháp lý của công ty. Vì vậy phải hiểu bản chất pháp lý của công ty là gì thì mới có thể hiểu đúng về bản chất pháp lý của góp vốn. Từ trước tới nay, các đạo luật về doanh nghiệp của nước ta chủ yếu là xác định bản chất kinh tế của góp vốn nên định nghĩa đơn giản như trên là tạo ra vốn điều lệ.
Vốn điều lệ của công ty được xem là hệ quả của của góp vốn. vốn điều lệ được Luật Doanh nghiệp năm 2020 (Điều 4, khoản 34) định nghĩa: “Vốn điều lệ là tổng giá trị tài sản do các thành viên công ty, chủ sở hữu công ty đã góp hoặc cam kết góp khi thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh; là tổng mệnh giá cổ phần đã bán hoặc được đăng ký mua khi thành lập công ty cổ phần”. Đơn giản, vốn điều lệ là tổng giá trị tài sản mà công ty đang có hoặc sẽ có do thành viên của công ty góp vào hoặc cam kết góp vào. Tuy 7 nhiên nêu xét ớ giác độ pháp lý thì hệ quả của hành vi góp vôn rộng hơn rât nhiều.
Từ góc độ kinh tế, người ta xem công ty hay doanh nghiệp như một cái áo khoác để thực hiện ý tưởng kinh doanh. Do đó, mối quan tâm của kinh tế học không phải là tư cách pháp nhân (địa vị pháp lý) của doanh nghiệp mà là chi phí để tổ chức kinh doanh, tức là các chi phí cho hoạt động huy động vốn, tổ chức lao động, tiến hành kinh doanh và các chi phí để phối hợp các yếu tố đó với nhau. Người kinh doanh phải lựa chọn mô hình phù họp để giữ chi phí tồ chức kinh doanh ở mức thấp mà lợi nhuận thu được phải ở mức cao nhất.217J Ở góc độ xã hội, người ta quan tâm tới công ty ở khía cạnh nó là một thực thể có ảnh hưởng to lớn đến sự phát triển của xã hội. Nhìn vào số lượng và qui mô của các công ty mà người ta có thế đánh giá được mức độ phát triển của một đất nước.
Ngày nay, nghiên cứu công ty, người ta không chỉ quan tâm đến việc đưa ra các cơ chế nhằm đảm bảo tối đa hoá lợi nhuận mà còn đề cập đến mối quan hệ giữa công ty với xã hội, đảm bảo hài hoà giữa mục đích lợi nhuận của công ty và quan niệm của xã hội về phạm vi trách nhiệm cùa công ty. Vậy, việc nghiên cứu công ty từ góc độ pháp lý, tức là, tìm hiểu bản chất pháp lý của công ty sẽ mang lại lợi ích gì? Trong quá trình thành lập và hoạt động của công ty, sẽ phát sinh hàng loạt các vấn đề pháp lý cần phải giải quyết, đó là giải quyết mối quan hệ giữa công ty với các thành viên của nó, mối quan hệ giữa các thành viên công ty với nhau, mối quan hệ giữa công ty với nhà nước và với người thứ ba, việc chuyển đổi hình thức công ty,.Nếu chỉ sử dụng các luận điểm của kinh tế học và xã hội học thì chúng ta sẽ thấy thật khó để có thể giải quyết được các vấn đề này bởi chúng không thuộc lĩnh vực nghiên cứu của xã hội và kinh tế học. Khi đó, người ta phải tìm đến bản chất pháp lý của công ty, chỉ khi nào trả lời được câu hỏi “công ty là gì”, bản 8 chất của nó ra sao thì việc giải quyết các vấn đề nêu trên sẽ trở nên dễ dàng hơn rất nhiều. Bản chất pháp lý của công ty là một hành vi pháp lý pháp lý hay hàn vi thương mại.171] Hành vi pháp lý được gọi là giao dịch dân sự bao gồm hợp đồng và hành pháp lý đơn phương.56-57] Vì vậy thành lập công ty được coi là một hành vi pháp lý hay là giao dịch dân sự để hình thành nên mối quan hệ nghĩa vụ trong công ty.
Bộ luật Dân sự năm 2020 (Điều 275) qui định: “Nghĩa vụ phát sinh từ căn cứ sau đây: 1. Hành vi pháp lý đơn phương; 3. Thực hiện công việc không có uỷ quyền; 4. Chiếm hữu, sử dụng tài sản hoặc được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật; 5.
Gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật; 6. Căn cứ khác do pháp luật quy định”. Trong giao dịch thành lập công ty, góp vốn là một điều khoản chủ yếu buộc phải qui định. Vì vậy Luật Doanh nghiệp năm 2020 (Điều 24, khoản 2) qui định như sau: “Điều lệ công ty bao gồm các nội dung chủ yếu sau đây: .; c) Vốn điều lệ; tổng số cổ phần, loại cổ phần và mệnh giá từng loại cổ phần đối với công ty cổ phần;.
Như vậy góp vốn là hành vi chuyển giao tài sản hay đưa tài sản vào sử dụng để đổi lấy quyền lợi đối với công ty. Quyền lợi trong công ty có khác nhau giữa các hình thức công ty. Đối với công ty họp danh và công ty trách nhiệm hữu hạn thì quyền lợi trong công ty chính là “phần vốn góp”. Đối với công ty cổ phần, thì quyền lợi trong công ty là cổ phần.