Khóa Luận Tốt Nghiệp Về Giao Dịch Dân Sự Vô Hiệu Do Giả Tạo Theo Bộ Luật Dân Sự 2015

Khóa luận phân tích hiệu lực của giao dịch dân sự giả tạo theo Bộ luật Dân sự 2015, cung cấp cái nhìn sâu sắc về pháp lý và thực tiễn.

Chuyên ngành

Luật

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2022

59
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Giao Dịch Dân Sự Vô Hiệu Do Giả Tạo

Giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo là một vấn đề pháp lý phức tạp trong Bộ luật Dân sự 2015. Hiểu rõ về khái niệm và đặc điểm của loại giao dịch này là rất quan trọng để áp dụng đúng quy định pháp luật. Giao dịch dân sự được xác định là vô hiệu khi không đáp ứng đủ các điều kiện có hiệu lực theo quy định của pháp luật. Đặc biệt, giao dịch vô hiệu do giả tạo thường liên quan đến việc các bên tham gia cố tình che giấu ý chí thực sự của mình nhằm trốn tránh nghĩa vụ pháp lý.

1.1. Khái Niệm Giao Dịch Dân Sự Vô Hiệu

Giao dịch dân sự vô hiệu là những giao dịch không có giá trị pháp lý do không đáp ứng các điều kiện cần thiết theo quy định của pháp luật. Theo Bộ luật Dân sự 2015, giao dịch này có thể phát sinh từ nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó giả tạo là một trong những nguyên nhân phổ biến.

1.2. Đặc Điểm Của Giao Dịch Dân Sự Vô Hiệu

Giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo thường có những đặc điểm như: không thể hiện ý chí thực sự của các bên, không đáp ứng các điều kiện về năng lực hành vi dân sự, và mục đích của giao dịch không vi phạm pháp luật. Những đặc điểm này giúp phân biệt giao dịch vô hiệu với các loại giao dịch khác.

II. Vấn Đề Pháp Lý Liên Quan Đến Giao Dịch Dân Sự Vô Hiệu

Các quy định pháp lý hiện hành về giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo còn nhiều bất cập. Việc xác định các trường hợp giao dịch vô hiệu do giả tạo không rõ ràng, dẫn đến khó khăn trong việc áp dụng và thực thi pháp luật. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến quyền lợi của các bên tham gia giao dịch mà còn gây khó khăn cho các cơ quan chức năng trong việc giải quyết tranh chấp.

2.1. Các Trường Hợp Giao Dịch Vô Hiệu Do Giả Tạo

Giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo có thể xảy ra trong nhiều trường hợp khác nhau, chẳng hạn như khi một bên cố tình che giấu giao dịch thực sự nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba. Những trường hợp này thường gây ra nhiều tranh chấp và khó khăn trong việc xác định trách nhiệm pháp lý.

2.2. Hậu Quả Pháp Lý Của Giao Dịch Vô Hiệu

Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo thường dẫn đến việc các bên không thể thực hiện nghĩa vụ đã cam kết. Điều này có thể gây thiệt hại cho các bên liên quan và làm giảm tính ổn định của các quan hệ pháp lý trong xã hội.

III. Phương Pháp Giải Quyết Giao Dịch Dân Sự Vô Hiệu

Để giải quyết các vấn đề liên quan đến giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo, cần có những phương pháp pháp lý rõ ràng và hiệu quả. Việc áp dụng các quy định pháp luật một cách nhất quán và công bằng sẽ giúp bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên tham gia giao dịch.

3.1. Quy Trình Xử Lý Giao Dịch Vô Hiệu

Quy trình xử lý giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo bao gồm việc xác định tính hợp pháp của giao dịch, đánh giá các chứng cứ liên quan và đưa ra quyết định phù hợp. Các cơ quan chức năng cần có sự phối hợp chặt chẽ để đảm bảo tính chính xác và công bằng trong quá trình xử lý.

3.2. Kiến Nghị Hoàn Thiện Quy Định Pháp Luật

Cần có những kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo. Việc này không chỉ giúp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật mà còn bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên tham gia giao dịch.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Về Giao Dịch Dân Sự Vô Hiệu

Việc áp dụng quy định pháp luật về giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo trong thực tiễn gặp nhiều khó khăn. Các cơ quan chức năng cần có những biện pháp cụ thể để nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật, từ đó bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên tham gia giao dịch.

4.1. Thực Tiễn Áp Dụng Pháp Luật

Thực tiễn áp dụng pháp luật về giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo cho thấy nhiều trường hợp khó khăn trong việc xác định tính hợp pháp của giao dịch. Các cơ quan chức năng cần có sự hỗ trợ và hướng dẫn cụ thể để giải quyết các vấn đề phát sinh.

4.2. Kết Quả Nghiên Cứu Về Giao Dịch Vô Hiệu

Kết quả nghiên cứu về giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo cho thấy cần có những cải cách trong quy định pháp luật để phù hợp với thực tiễn. Việc này sẽ giúp nâng cao tính hiệu quả và công bằng trong việc giải quyết các tranh chấp liên quan.

V. Kết Luận Về Giao Dịch Dân Sự Vô Hiệu Do Giả Tạo

Giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo là một vấn đề pháp lý phức tạp, đòi hỏi sự quan tâm và nghiên cứu sâu sắc. Việc hoàn thiện quy định pháp luật về giao dịch này không chỉ giúp bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên tham gia mà còn nâng cao tính ổn định của các quan hệ pháp lý trong xã hội.

5.1. Tương Lai Của Giao Dịch Dân Sự Vô Hiệu

Tương lai của giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo phụ thuộc vào việc cải cách và hoàn thiện quy định pháp luật. Cần có những biện pháp cụ thể để nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên tham gia.

5.2. Đề Xuất Giải Pháp Cải Cách

Đề xuất giải pháp cải cách quy định pháp luật về giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo là cần thiết. Việc này sẽ giúp nâng cao tính hiệu quả và công bằng trong việc giải quyết các tranh chấp liên quan đến giao dịch dân sự.

23/07/2025
Khóa luận tốt nghiệp ngành luật giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo theo bộ luật dân sự 2015

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 Dựa trên sự phân tích những công trình nghiên cứu đã có từ trước, ở chương này tác giả khái quát những vấn đề chung nhất của giao dịch dân sự, giao dịch dân sự vô hiệu trên cơ sở tiếp thu và tổng hợp những tài liệu trước đó. Bên cạnh đó, phân tích khái quát về giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo để nhằm làm cơ sở phân tích đề tài. Tại chương này Khoá luận đã triển khai được một số nội dung chính sau đây: - Dựa trên kết quả của việc nghiên cứu các góc nhìn khoa học, pháp lý, tác giả đã nêu được khái niệm cũng như đặc điểm của giao dịch dân sự. - Dựa trên kết quả của việc phân tích thuật ngữ giả tạo, các quan điểm khoa học về giao dịch dân sự do giả tạo, tác giả đã nêu và phân tích được khái niệm, đặc điểm của giao dịch dân sự vô hiệu, giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo, ý nghĩa đối với quy định của pháp luật về giao dịch dân sự do giả tạo.

19 Chương 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ GIAO DỊCH DÂN SỰ VÔ HIỆU DO GIẢ TẠO 2. Các trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo Theo quy định tại Điều 124 Bộ luật Dân sự năm 2015, giao dịch dân sự được chia thành hai trường hợp. Cụ thể đó là: - Khi các bên xác lập giao dịch dân sự một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch dân sự khác thì giao dịch dân sự giả tạo vô hiệu, còn giao dịch dân sự bị che giấu vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp giao dịch đó cũng vô hiệu theo quy định của Bộ luật này hoặc luật khác có liên quan. - Trường hợp xác lập giao dịch dân sự giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba thì giao dịch dân sự đó vô hiệu.

Quy định này vẫn kế thừa Điều 129 BLDS cũ năm 2005 nhưng bổ sung thêm cụm từ “hoặc luật khác có liên quan” để nhằm làm rõ yêu cầu tham chiếu các đạo luật khác khi đánh giá hiệu lực của giao dịch được che giấu bởi giao dịch dân sự khác đã được xác lập một cách giả tạo. Theo quy định này, có hai giao dịch dân sự được luật định xác lập do giả tạo: 2. Giao dịch được xác lập nhằm che giấu một giao dịch khác Che giấu” hiểu theo nghĩa Tiếng Việt thông thường nghĩa là “Giấu đi, không để lộ cho người khác biết”, trong khoa pháp pháp lý không có khái niệm cụ thể về che giấu, tuy nhiên có thể giểu che giấu là “giấu đi tội lỗi của mình”. Bản thân thuật ngữ che giấu đã cho thấy tính không minh bạch của trường hợp này.

Trong trường hợp này, có sự tồn tại của hai giao dịch song song nhau, trong đó có giao dịch đích thực (bên trong) và giao dịch giả tạo (che giấu, biểu hiện ra bên ngoài bằng hợp đồng). Ví dụ: Ông A muốn tặng cho con gái út của mình một ngôi nhà nhưng vì lý do tế nhị sợ các con khác biết được có thể gây mẫu thuẫn trong gia đình nên ông A và con gái đã ký kết hợp đồng mua bán nhà với nhau. 20 Ở đây có hai giao dịch song song tôn tài là giao dịch mua bán giữa ông A và con gái, tuy nhiên đó chỉ là giao dịch giả tạo, còn giao dịch thứ hai chính là hợp đồng tặng cho giữa ông A và con gái, đây mới chính là giao dịch thể hiện ý chí đích thực của hai bên. Khi xác lập giao dịch nhằm che giấu một giao dịch khác, các bên chủ thể đều tự nguyện bày tỏ và thống nhất với nhau về ý chí, nhưng không có sự thống nhất giữa ý chí bên trong và bên ngoài, các bên xác lập giao dịch nhưng trên thực tế không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên (có thể chỉ vì mục đích riêng hoặc vi phạm pháp luật).

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 124 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì: “Khi các bên xác lập giao dịch dân sự một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch dân sự khác thì giao dịch dân sự giả tạo vô hiệu, còn giao dịch dân sự bị che giấu vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp giao dịch đó cũng vô hiệu theo quy định của Bộ luật này hoặc luật khác có liên quan”. Theo quy định này, giao dịch dân sự giả tạo nhằm che giấu giao dịch đích thực sẽ luôn luôn vô hiệu, còn giao dịch đích thực vẫn có hiệu lực (trừ trường hợp cũng vi phạm một trong các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự theo quy định của pháp luật). Hơn nữa, không phải bất cứ một sự thể hiện ý chí nào cũng đều cho là giao dịch giả tạo mà chỉ những giao dịch mà ý chí giả tạo tồn tại ở các chủ thể (tức là có sự thông đồng trước) khi xác lập giao dịch, thì mới coi là giả tạo. Còn nếu không có sự thông đồng này thì giao dịch đó cũng có thể bị tuyên bố vô hiệu nhưng không phải là giao dịch giả tạo.

Để bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình và bảo vệ trật tự pháp luật, Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định khi tuyên bố giao dịch giả tạo vô hiệu thì giao dịch che giấu vẫn có hiệu lực. Như vậy, để áp dụng được khoản 1 Điều 124 Bộ luật Dân sự năm 2015 phải đảm bảo các điều kiện sau: Một là, các bên có sự thống nhất về ý chí cũng như hậu quả của hành vi khi xác lập giao dịch; Hai là, sự bày tỏ ý chí ra bên ngoài khác với mong muốn đích thực bên trong (che giấu). Việc che giấu có thể xuất phát từ nguyên do các bên không hiểu đúng quy định của pháp luật hoặc biết sai nhưng vẫn cố ý thực hiện giao dịch vì những động cơ, lợi ích bất hợp 21 pháp. Dựa trên các điều kiện này chúng ta có thể kết luận giao dịch các bên xác lập bị vô hiệu do giả tạo.

Có thể hiểu, giao dịch giả tạo là giao dịch mà ý chí được biểu đạt ra ngoài khác với ý chí đích thực và có tồn tại sự khác biệt giữa kết quả thực tế đã thực hiện giao dịch so với mục đích của giao dịch dân sự được xác lập. Thực tiễn công tác đã cho thấy, các giao dịch dân sự về vay tài sản phát triển nhưng ngoài việc phải chịu lãi suất cao thì người đi vay thường phải ký kết với người cho vay giao dịch mua bán tài sản (giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất hoặc mua bán nhà) với giá chuyển nhượng (mua, bán) thấp hơn nhiều so với giá trị thực tế. Mục đích của việc ký kết hợp đồng mua bán tài sản là đảm bảo bên vay thực hiện hợp đồng vay. Đây là giao dịch giả tạo mà bên cho vay thường sử dụng khi bên vay không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc thanh toán tiền vay gốc và lãi không đúng hạn, thì bên cho vay yêu cầu bên vay phải thực hiện hợp đồng chuyển nhượng tài sản.

Thậm chí, bên cho vay còn thực hiện thủ tục sang tên và được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với tài sản vốn đang thuộc quyền sở hữu, sử dụng hợp pháp của bên vay. Như vậy, trong trường hợp này, tồn tại 02 giao dịch, đó là hợp đồng vay tài sản và hợp đồng mua bán tài sản. Thực trạng diễn ra khá phổ biến là, trước khi kiện ra Tòa án, biết bên vay khó có khả năng thanh toán nợ gốc và lãi, nên bên cho vay không kiện vay tài sản. Dựa trên cơ sở hợp đồng mua bán tài sản, giấy chứng nhận nhà đất đã được sang tên, bên cho vay kiện bên vay yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp đồng mua bán tài sản hoặc đòi tài sản là nhà đất.

Các Thẩm phán thường gặp khó khăn khi giải quyết các vụ án này bởi không dễ dàng nhận biết giao dịch nào là thật, giao dịch nào là giả, đòi hỏi sự thận trọng, kĩ năng kinh nghiệm chuyên sâu và việc thu thập, đánh giá chứng cứ toàn diện, đầy đủ. Một số vụ án cụ thể - Vụ án thứ nhất: Tranh chấp đòi nhà giữa Nguyên đơn là ông C với bị đơn là ông S, bà T. Ông C kiện ông S, bà T yêu cầu trả nhà đất số 10, KM, HN với lý do: Năm 2019, ông C mua nhà đất của vợ chồng ông S, bà T với giá thực tế là 22 02 tỷ đồng nhưng giá ghi tại hợp đồng có công chứng là 300 triệu đồng. Ông C trình bày ông giao đủ tiền cho vợ chồng bà T tại Ngân hàng nông nghiệp và camera của Ngân hàng có ghi lại việc ông giao tiền.

Ông đồng ý cho vợ chồng bà T ở lại nhà đất nêu trên cho đến khi ông hoàn tất thủ tục sang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà. Ngày 25/9/2019, ông C được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà nên ông yêu cầu vợ chồng bà T bàn giao nhà nhưng vợ chồng bà T không thực hiện. Bà T không chấp nhận yêu cầu đòi nhà của ông C mà cho rằng việc vợ chồng bà ký hợp đồng chuyển nhượng nhà đất là để làm tin cho việc vay tiền. Sau khi ký hợp đồng chuyển nhượng nhà đất, bà có nhận tiền của ông C tại Ngân hàng Nông nghiệp (bà không đếm nhưng cho rằng chỉ nhận 300 triệu đồng) và bà có giao giấy chứng nhận nhà đất cho ông C.

- Vụ án thứ hai: Tranh chấp đòi quyền sử dụng đất và tài sản trên đất giữa nguyên đơn là chị H với bị đơn là anh Đ. Năm 2019, hai bên ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại Văn phòng công chứng số 3 tỉnh HY với nội dung: Vợ chồng anh Đ chuyển nhượng 391m2 đất, tại, thị trấn N, huyện V, H Y với giá thống nhất ghi tại hợp đồng là 600 triệu đồng. Cùng ngày ký hợp đồng, chị H giao cho anh Đ 200 triệu đồng (không lập giấy biên nhận) tại Văn phòng công chứng. Ngày 06/12/2019, chị H thanh toán tiếp cho anh Đ400 triệu đồng.

Ngoài ra, các tài sản trên đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nên hai bên thỏa thuận giá các tài sản gồm nhà ngói 05 gian, một dãy phòng trọ và các công trình phụ là 600 triệu đồng. Ngày 15/12/2019, chị H giao đủ 600 triệu đồng nhưng sau đó anh Đ không giao nhà đất cho chị H.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ