Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Mục tiêu của giáo dục phổ thông Chương trình giáo dục phổ thông với mục tiêu giúp học sinh phát triển toàn diện cả về phẩm chất và năng lực; giúp học sinh có sự phát triển hài hòa cả về thể chất và tinh thần. Để đào tạo ra những con người đủ đức, đủ tài, là nguồn nhân lực cho quá trình xây dựng và bảo vệ đất nước trong thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, sánh kịp các quốc gia trên thế giới. Với mục tiêu đó, chương trình giáo dục phổ thông xây dựng hệ thống kiến thức cơ bản, hiện đại, chú trọng thực hành, học đi đôi với hành, gắn kiến thức môn học với thực tiễn, đưa các kiến thức gần gũi với thực tế đời sống, để học sinh có thể vận dụng các kiến thức học trong chương trình để áp dụng trong thực tế, giải thích các kết quả, hiện tượng thực tế.
Ví dụ như áp dụng các kiến thức môn Địa lý, học sinh có thể giải thích được sự phân hóa vùng, miền, giải thích các hiện tượng thay đổi thời tiết, hiện tượng tự nhiên. Hoặc,áp dụng môn Sinh học, công nghệ vào khoa học kĩ thuật nhằm nâng cao năng suất chất lượng cây trồng. Hoặc áp dụng các kiến thức Toán học vào các tình huống thực tế cuộc sống như tính chu vi, diện tích hình ,khối,. Ngoài việc chú trọng cung cấp kiến thức, phát triển tư duy, sáng tạo cho học sinh thì chương trình giáo dục phổ thông cũng rát coi trọng việc phát triển nhân cách, đạo đức, thể, mỹ cho học sinh giúp học sinh có nhân cách tốt, đời sống tâm hồn phong phú, phát triển hài hòa các mối quan hệ xã hội.
Nhờ đó mà học sinh phát triển toàn diện cả về phẩm chất và năng lực, giúp học sinh có sự phát triển hài hòa cả về thể chất và tinh thần. Chương trình giáo dục tổng thể theo kế hoạch được chia thành 2 giai đoạn, cụ thể như sau: ●Giai đoạn 1: Bắt đầu từ lớp 1 đến hết lớp 9 (giáo dục Tiểu học và THCS) là giai đoạn giáo dục cơ bản. 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com ●Giai đoạn 2: Bắt đầu từ lớp 10 đến hết lớp 12 (giáo dục THPT) là giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp. Giáo dục THPT tiếp tục giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục Tiểu học và giáo dục THCS nhằm giúp học sinh làm chủ kiến thức phổ thông, tiếp tục phát triển năng lực, phẩm chất, nhân cách, có định hướng lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với năng lực, sở thích và điều kiện hoàn cảnh của bản thân để tiếp tục học trung cấp, cao đẳng, đại học, học nghề hay tham gia vào lao động sản xuất trong thời đại toàn cầu hóa và cách mạng công nghiệp hóa.
Giáo dục toán học gắn với thực tiễn Giáo dục toán học có vai trò quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển những phẩm chất , năng lực chung và năng lực toán học giúp học sinh phát triển tư duy sáng táo, là môn học xuất phát từ thực tiễn, phát triển phục vụ đời sống thực tiễn. Toán học là công cụ hỗ trợ và có sự gắn bó với các môn học khác như Hóa học, vật lý, sinh học và giữa Toán học với đời sống thực tiễn. Chương trình môn Toán học ở cấp trung học phổ thông là giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp giúp cho học sinh có cái nhìn tương đối tổng quát về toán học, thấy được vai trò và những ứng dụng của toán học trong đời sống lao động sản xuất, một số lĩnh vực khác. Như chúng ta đã biết: Toán học là một trong các môn học quan trọng, đóng vai trò tích cực trong cuộc sống , đồng thời cũng là công cụ hữu hiệu hỗ trợ cho sự phát triển của khoa học và các môn học khác.
Tuy nhiên, Toán học lại là môn học khó và khá trừu tượng, là môn xuất phát từ thực tiễn và phát triển gắn liền với sự phát triển của thực tiễn. Nên việc giảng dạy Toán theo hướng gắn với thực tiễn được rất nhiều học sinh, phụ huynh và xã hội quan tâm , đặc biệt là các thầy cô giáo. Theo dự thảo, môn Toán được xây dựng 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com theo hướng tinh giản, sát thực tiễn, tăng tính ứng dụng, giảm bớt tính lắt léo, đánh đố. Trong quá trình học tập môn toán cần có các liên hệ bài học với thực tế đời sống.
Ví dụ: khi dạy học sinh về tính diện tích hình chữ nhật có thể liên hệ đo dác và tính toán diện tích của các hình chữ nhật có trong lớp học như: mặt bàn, diện tích sàn lớp học làm tăng húng thú học tập và niềm say mê môn toán. Giáo viên cần vận dụng các phương pháp dạy học tích cực theo quan điểm “lấy người học làm trung tâm”, phát huy tính tự giác, tích cực, chủ động ,sáng tạo của học sinh.Giáo viên cũng áp dụng linh hoạt các phương pháp, kỹ thuật dạy học tích cực sao cho phù hợp với từng đối tượng học sinh, phù hợp với hoàn cảnh cụ thể. Giáo viên học tập các phương pháp dạy học tích cực phát triển niềm tin về vị trí, vai trò,tầmquan trọng to lớn của Toán học đối với đời sống xã hội hiện đại, khuyến khích học sinh phát triển hứng thú, sự sẵn sàng tự học hỏi, tìm tòi, khám phá môn Toán giành được kết quả tốt. Giáo viên gợi đông cơ học tập xuất phát từ nhũng tình huống thực tế, từ đó kích thích hứng thú ,kích thích nhu cầu muốn tìm tòi, tiếp cận tri thức mới của học sinh từ đó giáo dẫn dắt học sinh đến nội dung bài học.
Tuy nhiên việc gợi động cơ từ tình huống thực tế mà nội dung bài học có thể giải quyết vấn đề, mà không đòi hỏi thêm quá nhiều kiến thức phụ trợ. Hoạt động củng cố kiến thức cũng được đưa vào giảng dạy, học sinh ứng dụng những kiến thức đã có và các kiến thức vừa học để giải quyết các bài toán thực tế, các tình huống trong đời sống lao động sản xuất. Từ đó học sinh thấy được Toán học thực sự cần thiết và gần gũi với cuộc sống, không quá khô khan và khó. Trong chương trình giáo dục phổ thông mới hiện nay, để nâng cao chất lượng học tập và tạo được hứng thú cho học sinh, phân phối chương trình 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com môn toán đã được bổ sung các tiết thực hành, tổ chức các buổi hoạt động ngoại khóa về Toán học, các chương trình Toán học lý thú, bổ ích.
Ví dụ: Để đo chiều cao của một cái cột hoặc chiều cao một kim tự tháp ở Ai Cập không lẽ ta phải chèo lên tận đỉnh cột (tháp) để đo? Khi có các kiến thức về ứng dụng của lượng giác và tam giác đồng dạng thì việc đo sẽ trở nên vô cùng dễ dàng. Đây là những ví dụ rất đơn giản và đời thường cho thấy phần nào mối tương quan giữa toán học và cuộc sống. Ngày nay, cùng với sự hỗ trợ của máy tính, toán học trở nên phức tạp và trừu tượng hơn nhưng phạm vi ứng dụng của nó cũng rộng lớn hơn nhiều. Những ví dụ trên đây cho ta thấy một điều rõ ràng là toán học chính là cuộc sống, toán học và cuộc sống luôn đi liền với nhau.
Mục đích của toán học là cải thiện cuộc sống, nhu cầu cuộc sống là động lực để toán học phát triển. Từ nửa sau thế kỉ XX, một số nền giáo dục hiện đại tiên tiến trên thế giới (như Mĩ, Anh , Đức, Pháp, Astralia, Hà Lan, Phần Lan,.) đã vận hành dựa trên những lí thuyết dạy học mới và có nhiều tiến bộ như lí thuyết kiến tạo, lí thuyết tình huống, giáo dục Toán học gắn với thực tiễn( RME- Realistic Mathematics Educasion) ở Hà Lan, thuyết đa trí tuệ (Multiple Intelligences) ở Mĩ,. Trong đó, lí thuyết RME có nhiều điểm gần gũi và khả thi với giáo dục Toán học Việt Nam. Tìm hiểu lí thuyết RME 1.
Ba luận điểm cơ bản của RME Có thể chỉ ra một số luận điểm cơ bản trong lí thuyết RME như sau: - Toán học như một hoạt động sống Trong xã hội loài người, Toán học không chỉ để tồn tại mà còn được nâng lên thành một sản phẩm trừu tượng, một nghành khoa học cơ bản được 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nghiên cứu trong một hệ thống lí thuyết: không chỉ xuất phát từ nhu cầu của thực tiễn mà còn tự thân phát triển nhờ những nhu cầu từ nội bộ môn Toán. Tuy nhiên, đối với da số người lao động, với tư cách là người thụ hưởng, người dùng cuối cùng các sản phẩm vật chất, tinh thần của nền văn minh, hầu hết các kiến thức toán học , càng sâu sắc thì càng ít liên quan đến hoaatj động sống của họ, không cần biết có bao nhiêu bằng phát minh, sáng chế, bao nhiêu lí thuyết toán học, bao nhiêu mô hình tính toán giúp vận hành chiếc máy điện thoại, đa số chỉ cần biết nhập các chữ, các số, sấp xếp danh bạ, truy tìm từ khóa.Đối với nhiều người, nhu cầu học và nghiên cứu - với tư cách là một nhà khoa học thuần túy lí thuyết. Vì vậy, nội dung đưa vào giáo dục toán học trong nhà trường, dành cho đa số, ở trình độ phổ thông, không nhất thiết, không cần thiết là thứ toán để học, để nghiên cứu mà nên thiên về thứ toán để làm, tính toán như hoạt động sống: tính, đếm, đo dạc , so sánh, phân tích, thống kê, chia trường hợp, đánh giá, dự đoán, ra quyết định,. Toán học phải được kết nối với thực tế, với vùng phát triển gần nhất của học sinh và cần có tính thời đại thông qua các mối liên kết đến xã hội.
Thay vì nhìn toán học như một chủ đề cần được truyền đạt, RME nhấn mạnh ý tưởng toán học như một hoạt động của con người. Các bài học nên cung cấp cho học sinh cơ hội có hướng dẫn để phát minh lại toán học bằng cách thực hiện nó. - Dạy toán là hướng dẫn học sinh " phát minh lại" tri thức. Con đường mà toán học được tìm ra có khi được kéo dài hàng nghìn năm đày khúc khuỷu, quanh co, đày chông gai khó nhọc ngay cả với những bộ óc vĩ đại của nhân loại.
Đương nhiên, không thể được tái hiện những con đường nói trên một cách hoàn toàn trung thực trong môi trường lớp học.