phần Mở đầu, Kết luận, phần Nội dung luận văn gồm 3 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1.1 Tình thái và từ tình thái trong tiếng Việt hiện nay 1.2 Quán ngữ tình thái – khái niệm cơ bản 1.3 Phát ngôn tình thái 1.4 Lai lịch vấn đề 1.5 Dạy từ tình thái (các sách) Chƣơng 2. Từ tình thái và dạy từ tình thái ở trình độ nâng cao 2.1 Từ tình thái và cách dạy từ tình thái ở nâng cao 2.2 Một số hiện tƣợng điển hình và cách dạy 2.2 Tiểu kết 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 3. Quán ngữ tình thái và dạy quán ngữ tình thái ở trình độ nâng cao 3.1 Quán ngữ tình thái và cách dạy quán ngữ tình thái ở nâng cao 3.2 Một số trƣờng hợp điển hình và phƣơng pháp 3.2 Phƣơng pháp dạy liên quan đến yếu tố tình thái 3.3 Một thiết kế thử nghiệm 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN 1.1 Tình thái và từ tình thái trong Tiếng Việt hiện nay Nhìn chung các quan niệm từ xƣa đến nay vẫn coi tình thái vốn là một khái niệm liên quan đến ngữ nghĩa của câu, nghĩa là thuộc địa hạt cú pháp. Theo đó, nghĩa của câu truyền thống đƣợc chia ra hai lớp: lớp nghĩa ngôn liệu (dictum) gắn với việc miêu tả nội dung mệnh đề và lớp nghĩa tình thái (modus) gắn với việc đối chiếu nội dung ngôn ngữ với thực tại qua thái độ của ngƣời nói.
242,243] Mỗi ngôn ngữ có một hệ thống từ ngữ dùng để biểu đạt các liên hệ tình thái của câu trên cơ sở của chất liệu ngôn ngữ từng loại hình. Với các ngôn ngữ biến tố thì dạng thức nhân xƣng của động từ là phƣơng tiện rất quan trọng, còn với ngôn ngữ đơn lập nhƣ tiếng Việt thì hệ thống các từ tình thái lại đảm trách công năng này. Do bản chất ngữ pháp có những khía cạnh rất riêng biệt cho nên có thể và cần phải xếp từ tình thái thành một phạm trù ngang hàng với phạm trù thực từ và hƣ từ. Tuy rằng, phạm trù này chỉ bao hàm vài tập hợp nhỏ nhƣ: tiểu từ, trợ từ, thán từ.
Tiêu biểu cho các tác giả trực tiếp quan tâm khảo sát vấn đề tình thái thể hiện qua những bài viết đăng trên tập chí Ngôn ngữ nhƣ: Lê Đông (1991) “Ngữ nghĩa – ngữ dụng của hư từ Tiếng Việt: ý nghĩa đánh giá của các hư từ” Nguyễn Minh Thuyết (1995) “Các tiền phó từ chỉ thời – thể trong Tiếng Việt” Phạm Hùng Việt (2001) “Vấn đề tình thái với việc xem xét chức năng ngữ nghĩa của trợ từ Tiếng Việt” 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Lê Đông – Nguyễn Văn Hiệp (2003) “Khái niệm tình thái trong ngôn ngữ học” Hoàng Trọng Phiến trong Ngữ pháp Tiếng Việt – câu (1980) thì nhận xét tình thái là phạm trù ngữ pháp của câu ở dạng tiềm tàng. Tình thái có mặt trong tất cả các kiểu câu. Điều này thể hiện ở chỗ câu có giá trị thời sự, nó có tác dụng thông báo một điều mới mẻ. Qua đó, ngƣời nghe hiểu rằng ngƣời nói có thái độ thế nào với hiện thực.
Chia sẻ quan điểm trong một bài viết bàn về khái niệm tình thái (1988), với Hoàng Tuệ “Tình thái là một khái niệm trong sự phân tích theo cách nhìn tìm đến thái độ của người nói trong hoạt động phát ngôn tức cũng là tìm đến tác động ngữ dụng, tác động mà người nói muốn tạo ra ở người nghe trong thực tế hoạt động ngôn ngữ.” Ở một mức khái quát cao, Cao Xuân Hạo cho rằng tình thái của câu đƣợc biểu thị trong cấu trúc cú pháp cơ bản (mà tác giả gọi là cấu trúc Đề - Thuyết) gồm có: - Nhận định của ngƣời nói về giá trị chân ngụy của điều đƣợc nói ra trong câu (khẳng định, phủ định, ngờ vực, nêu rõ phạm vi giới hạn và điều kiện của tính chân lý) - Về tính khả năng hay tất yếu của điều đó (có thể hay không có thể, tất nhiên hay không tất nhiên, mức độ cao hay thấp của tính khả năng, tính tất yếu) - Cách đánh giá của ngƣời nói đối với sự tình đƣợc truyền đạt (đáng mừng hay đáng tiếc, đáng hi vọng hay e ngại…) - Sự giới thiệu của ngƣời nói về tính chất của câu nói (tính thành thực, đơn giản, áng chừng hay chính xác.) 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Mối quan hệ giữa câu nói với tình huống đối thoại hay đối với ngôn cảnh và nhiều nội dung khác thuộc lĩnh vực lô-gic và siêu ngôn ngữ Mặc dù các diễn đạt của các tác giả không giống nhau, song nhìn chung cách hiểu tình thái là một phạm trù ngữ nghĩa – chức năng phản ánh mối quan hệ, thái độ, cách đánh giá của ngƣời nói đối với nội dung của phần còn lại trong câu là cách hiểu đƣợc nhiều nhà nghiên cứu thừa nhận nhất. Tóm lại, trên cơ sở nghiên cứu của những ngƣời đi trƣớc, chúng tôi xin tổng kết thành mấy điểm chính nhƣ sau về vấn đề tình thái: - Tình thái cùng với nội dung mệnh đề là hai thành phần cần thiết tạo nên cấu trúc ngữ nghĩa của câu, góp phần thực tại hóa câu và gắn câu với điều kiện giao tiếp hiện thực. - Tình thái là một phạm trù rộng lớn thể hiện thái độ, những cách đánh giá khác nhau của ngƣời nói đối với nội dung mệnh đề, với ngƣời đối thoại và với các nhân tố khác của ngữ cảnh liên quan đến sự tình đƣợc phản ánh. - Tình thái cần đƣợc nhìn nhận, xem xét, nghiên cứu nhƣ một phạm trù mang tính phức thể, nhiều phƣơng diện tác động lẫn nhau và liên hệ một cách chặt chẽ với các phạm trù ngữ nghĩa – chức năng cũng nhƣ với các phạm trù của ngữ dụng học.
Theo cách nhìn này, khi nghiên cứu tính tình thái, chúng ta phải tính đến sự tƣơng tác phức tạp của bốn nhân tố trong quá trình giao tiếp: ngƣời nói, ngƣời đối thoại, nội dung của phát ngôn và thực tế. Nội dung, ý nghĩa cụ thể của tình thái rất đa dạng nhƣng phần lớn đều trực tiếp hoặc gián tiếp đề cập đến các trạng thái nhận thức, đánh giá, thái độ, tâm lý, tình cảm của ngƣời nói. Từ tình thái là một mảng trong từ loại đối lập với thực từ và hƣ từ. Theo Đinh Văn Đức, từ loại cũng nằm trong mô hình tam phân giữa thực từ, hƣ từ và tình 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thái từ.
Trong đó tình thái từ là một đỉnh. Tuy nhiên, tình thái từ có một cƣơng vị ngữ pháp riêng biệt và không nằm trong phạm vi của hƣ từ. Nhƣ vậy, tình thái từ không đơn giản cũng là hƣ từ theo nhận thức truyền thống, phàm từ nào không phải là thực từ thì là hƣ từ. Hiện nay, từ tình thái tiếng Việt đƣợc hiểu nhƣ một khái niệm rộng hơn – khái niệm chức năng tình thái.
Từ đó, trên khía cạnh nghĩa học và dụng học giúp ta hiểu sâu hơn về những đặc trƣng của từ tình thái tiếng Việt. Từ tình thái là những từ công cụ nghĩa học trong câu nhằm thực tại hóa những đích ngôn trung của câu. Nó đồng thời biểu đạt tình cảm, thái độ, cách thức nhận xét, cách thức đánh giá của ngƣời nói với nội dung mệnh đề trong mối liên hệ với thực tại, trong một số trƣờng hợp khác, một sổ tiểu từ tình thái cũng có vai trò làm dấu hiệu tƣờng minh đánh dấu đích ngôn trung của phát ngôn.139] Khái niệm tình thái thực sự đƣợc khảo sát kĩ càng từ Cao Xuân Hạo trong Tiếng Việt sơ khảo ngữ pháp chức năng. Theo Cao Xuân Hạo, tình thái có hai loại: tình thái của hành động phát ngôn và tình thái của lời phát ngôn.
Cái thứ nhất thuộc bình diện ngữ dụng, cái thứ hai thuộc bình diện ngữ nghĩa. Tình thái của hành động phát ngôn thuộc về ngữ dụng, nó phân biệt các lời nói về phƣơng diện, mục tiêu, tác dụng trong giao tiếp, bao gồm cả sự khu biệt các loại câu nhƣ: câu trần thuật, câu nghi vấn, câu cầu khiến đã đƣợc ngữ pháp hóa, còn những câu khác cũng thuộc phạm vi này đó là câu có giá trị ngôn trung đƣợc đánh dấu nhƣ câu xác nhận, câu bắt buộc, câu ngôn hành. Tình thái thứ hai là tình thái của lời phát ngôn thì thuộc phạm vi nghĩa học. Cao Xuân Hạo cho rằng, tình thái này thuộc nội dung đƣợc truyền đạt hay yêu cầu truyền đạt trong các câu trần thuật hay câu hỏi, nó liên quan đến thái độ ngƣời nói hay nội dung điều mình nói ra, nó liên quan đến nội dung quan hệ sở thuyết hoặc sở đề.
10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trong tiếng Việt các phƣơng tiện tình thái đƣợc thay bằng việc dùng các phụ từ tình thái quay xung quanh động từ và tính từ vị ngữ, nó có cả phƣơng tiện từ vựng và phƣơng tiện ngữ âm. Ngoài Cao Xuân Hạo một số tác giả khác cho rằng: số lƣợng tiểu từ tình thái tuy nhỏ nhƣng tần số xuất hiện lớn, nó có nhiều hạng mục, có những từ tình thái chuyên dùng, có những phụ từ tình thái và những tiểu từ tình thái dứt câu. Chúng tôi đồng ý với Đinh Văn Đức khi ông cho rằng khó có thể chia sẻ vì xuất phát từ quan hệ chức năng của hai phạm trù này với tƣ duy, trong cách thức phản ánh của ngƣời bản ngữ thì chúng khác nhau về bản chất. Trong phạm vi chức năng thì cả hai cũng rất khác nhau trong hoạt động.
Trong câu hay cấu trúc ngữ pháp hầu nhƣ hƣ từ không vắng mặt, tấn số xuất hiện cao mặc dù chúng là một tập hợp không lớn về số lƣợng. Khác với thực từ, ý nghĩa hƣ từ thiên hẳn về tính chất ngữ pháp. Hƣ từ ít tham gia biểu niệm, nó là phƣơng tiện dùng để phân xuất các hình thức tri nhận thành khái niệm và biểu đạt mối quan hệ giữa khái niệm với khái niệm trong tƣ duy. Bản chất đó quy định khả năng cú pháp của các hƣ từ, chúng không làm trung tâm đoản ngữ, đôi khi có thể làm thành tố phụ một cách giới hạn trong đoản ngữ, còn trong đa số trƣờng hợp, hƣ từ đƣợc dùng làm yếu tố để liên kết cú pháp, kết hợp từ trong ngữ lƣu dƣới dạng các cấu trúc ngữ pháp.
Bản chất đó cũng quy định chức năng của hƣ từ ở trong câu: hƣ từ không có khả năng độc lập tạo ra câu và cũng không làm thành phần câu [8, tr. Các từ loại hƣ từ thƣờng gặp nhất là: liên từ, giới từ, quán từ. Trong tiếng Việt và các ngôn ngữ đơn lập, danh sách hƣ từ có tăng lên vì đây là những ngôn ngữ thiên về phân tích tính.