Tổng quan nghiên cứu

Sự bùng nổ của công nghệ thông tin đã đưa Việt Nam trở thành quốc gia xếp thứ 7 trên toàn cầu về lượng người sử dụng mạng xã hội Facebook với hơn 64 triệu tài khoản hoạt động trong năm 2018. Trong bức tranh toàn cảnh đó, lứa tuổi học sinh trung học phổ thông từ 15 đến 18 tuổi là nhóm đối tượng tham gia sôi nổi nhất với tỷ lệ sở hữu tài khoản lên tới 97,6% tại khu vực Thành phố Hồ Chí Minh theo các khảo sát học đường. Tuy nhiên, tính hai mặt của nền tảng trực tuyến này đang tạo ra những rào cản nghiêm trọng đối với giáo dục khi tình trạng lạm dụng thời gian lướt mạng làm suy giảm quỹ thời gian tự học, gây xao nhãng bài vở và trực tiếp kéo tụt kết quả học tập của học sinh.

Nghiên cứu được triển khai nhằm phân tích thực trạng tác động tiêu cực của mạng xã hội Facebook tới kết quả học tập của học sinh, đồng thời ứng dụng thực nghiệm phương pháp công tác xã hội nhóm để hỗ trợ can thiệp, giúp các em cải thiện học lực và tái cân bằng hành vi sử dụng công nghệ. Đề tài tập trung điển cứu tại trường Trung học phổ thông Tạ Quang Bửu, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh – một cơ sở giáo dục có quy mô 41 lớp học với 1.670 học sinh trong năm học 2017 – 2018, nơi mặt bằng điểm đầu vào và kết quả rèn luyện còn nhiều khó khăn.

Phạm vi nghiên cứu được thực hiện xuyên suốt từ tháng 12/2017 đến tháng 09/2018. Ý nghĩa của công trình thể hiện rõ nét qua việc chuẩn hóa quy trình trợ giúp nhóm từ 6 đến 8 học sinh có học lực thấp, giúp 100% thành viên tham gia giảm thời gian lướt mạng vô bổ xuống dưới 2 giờ mỗi ngày, thiết lập lại thời gian biểu khoa học và nâng cao điểm số trung bình môn sau can thiệp.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu xây dựng nền tảng lý luận vững chắc dựa trên sự kết hợp liên ngành của ba lý thuyết công tác xã hội và tâm lý học hiện đại:

  • Lý thuyết Tháp nhu cầu của Abraham Maslow (1954): Hệ thống hóa 5 bậc thang nhu cầu từ nhu cầu sinh học căn bản, an toàn, giao lưu tình cảm - thuộc về một tập thể, được tôn trọng cho đến nhu cầu tự thể hiện bản thân. Lý thuyết này luận giải cơ chế tâm lý khiến học sinh trung học phổ thông tìm kiếm sự công nhận, kết nối bạn bè và khẳng định cái tôi trên không gian ảo của Facebook khi các nhu cầu tinh thần ngoài đời thực chưa được đáp ứng thỏa đáng.
  • Lý thuyết Hệ thống của Talcott Parsons (1951): Nhìn nhận mỗi học sinh là một tiểu hệ thống vận hành bên trong các hệ thống lớn hơn gồm gia đình, nhà trường và cộng đồng xã hội. Nhóm công tác xã hội đóng vai trò như một hệ thống xã hội thu nhỏ thực hiện 4 chức năng cốt lõi: Hội nhập, Thích nghi, Duy trì bản sắc và Đạt mục tiêu, qua đó tạo lực đẩy giúp các cá nhân tương tác và tương trợ lẫn nhau để vượt qua trở ngại.
  • Lý thuyết Tâm lý năng động: Phân tích các xung đột nội tâm và cơ chế tự vệ hình thành từ trải nghiệm sống. Nhân viên công tác xã hội vận dụng hai định hướng can thiệp gồm "duy trì bản ngã" nhằm khơi dậy tiềm năng sẵn có và "thay đổi bản ngã" nhằm điều chỉnh các hành vi nhận thức sai lệch, giúp học sinh nhận diện nguyên nhân sâu xa của việc trốn tránh thực tại qua mạng xã hội.

Bên cạnh đó, nghiên cứu định hình rõ các khái niệm công cụ bao gồm: Mạng xã hội Facebook, Học sinh trung học phổ thông (căn cứ theo nhiệm vụ quy định tại Quyết định số 1118/QĐ năm 1987 của Bộ Giáo dục), Kết quả học tập và Phương pháp công tác xã hội nhóm theo chuẩn mực quốc tế của Gisela Konopka (1963) và Charles Toseland (1998).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp nhuần nhuyễn giữa phương pháp định lượng và định tính nhằm đảm bảo tính khách quan và chiều sâu khoa học:

  • Nguồn dữ liệu và cỡ mẫu định lượng: Khảo sát ngẫu nhiên phân tầng trên tổng số 240 học sinh trường Trung học phổ thông Tạ Quang Bửu, phân bổ đều cho 3 khối (lớp 10 có 80 học sinh thuộc 2 lớp; lớp 11 có 80 học sinh thuộc 2 lớp; lớp 12 có 80 học sinh thuộc 2 lớp; sĩ số tiêu chuẩn 40 học sinh mỗi lớp). Thu về 240 phiếu với 232 phiếu hợp lệ đạt tiêu chuẩn phân tích. Lý do chọn mẫu phân tầng theo 3 khối nhằm so sánh sự biến thiên hành vi giữa học sinh đầu cấp và học sinh cuối cấp chuẩn bị thi đại học.
  • Thu thập dữ liệu định tính: Tiến hành phỏng vấn sâu 1 cán bộ quản lý trường, 20 học sinh khối 12; đồng thời thu thập phiếu khảo sát tự điền chuyên sâu từ 10 giáo viên chủ nhiệm và 20 phụ huynh học sinh để làm sáng tỏ các mối quan hệ tác động từ môi trường gia đình và học đường.
  • Công cụ đo lường và phân tích: Ứng dụng Thang đo mức độ nghiện Facebook Bergen (BFAS - Bergen Facebook Addiction Scale do Tiến sĩ Cecilie Schou Andreassen phát triển năm 2011) với 6 tiêu chí cốt lõi. Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm thống kê SPSS phiên bản 13.0 thông qua thống kê mô tả và kiểm định độ tin cậy Cronbach's Alpha. Lý do lựa chọn phương pháp này vì thang đo đạt độ tin cậy nội tại rất cao trong việc lượng hóa hành vi: biến H9 (sử dụng bất kỳ lúc nào) đạt Alpha = 0,843; biến H20 (thường xuyên nghĩ đến Facebook) đạt Alpha = 0,821; biến H23 (cố từ bỏ nhưng không thành) đạt Alpha = 0,849.
  • Timeline nghiên cứu: Triển khai từ tháng 12/2017 đến tháng 09/2018 theo 4 giai đoạn chuẩn mực của tiến trình công tác xã hội nhóm: Chuẩn bị thành lập nhóm, Khảo sát đánh giá, Thực hiện can thiệp và Kết thúc lượng giá.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình khảo sát thực chứng đã làm sáng tỏ bức tranh toàn diện về thói quen trực tuyến và mức độ ảnh hưởng của mạng xã hội Facebook tới học sinh:

  • Tỷ lệ phổ biến vượt trội: Có 234 trên tổng số 240 học sinh được khảo sát đang sử dụng mạng xã hội Facebook hàng ngày, chiếm tỷ lệ tuyệt đối 97,5%, trong khi nhóm không sử dụng chỉ chiếm 2,5% (6 học sinh). Điều này chứng minh Facebook đã trở thành một phần không thể thiếu trong lối sống của học sinh phổ thông.
  • Thời lượng sử dụng ở mức báo động: Khảo sát ghi nhận 47,1% học sinh ở mức thường xuyên và 5,8% ở mức rất thường xuyên sử dụng Facebook từ 2 đến 5 giờ mỗi ngày. Đáng chú ý, tỷ lệ học sinh truy cập trên 5 giờ một ngày chiếm tới 37,9% ở mức thường xuyên và 18,8% ở mức rất thường xuyên, cho thấy quỹ thời gian dành cho giải trí trực tuyến đang lấn át hoàn toàn thời gian biểu học tập.
  • Thời điểm truy cập mất kiểm soát: Tỷ lệ học sinh truy cập Facebook "bất kỳ lúc nào" chiếm 32,5% ở mức thường xuyên và 25,4% ở mức rất thường xuyên. Đặc biệt, việc lướt mạng vào ban đêm chiếm tỷ lệ áp đảo với 36,7% thường xuyên và 30,4% rất thường xuyên. Tần suất sử dụng vào những ngày cuối tuần cũng rất cao với 33,3% thường xuyên và 31,7% rất thường xuyên. Ngược lại, việc truy cập trong giờ học chỉ chiếm 0,4% rất thường xuyên do nhà trường siết chặt kỷ luật cấm dùng điện thoại (52,9% đánh giá rất ít khi sử dụng trong lớp).
  • Thực trạng học lực sút giảm: Dữ liệu học kỳ I năm học 2017 – 2018 cho thấy có 6,3% học sinh đạt điểm trung bình dưới 5,0 (học lực yếu kém) và 26,7% học sinh có mức điểm trung bình chỉ từ 5,0 đến 5,9. Báo cáo tổng kết toàn trường năm học 2017 – 2018 ghi nhận toàn trường có tới 207 học sinh xếp loại yếu và 14 học sinh xếp loại kém (chiếm 13,33% tổng số 1.658 học sinh được xếp loại), tập trung nhiều nhất ở khối 10 với 122 học sinh yếu và 11 học sinh kém.

Thảo luận kết quả

Các dữ liệu định lượng trên có thể được minh họa trực quan thông qua biểu đồ cột phân bố thời lượng sử dụng hàng ngày và biểu đồ tròn thể hiện tỷ lệ lướt mạng xuyên đêm để làm nổi bật mức độ xâm lấn của mạng xã hội vào đời sống học đường.

Nguyên nhân chính của hiện tượng này bắt nguồn từ sự phát triển tâm sinh lý mạnh mẽ ở lứa tuổi vị thành niên. Các em chịu áp lực tâm lý muốn thể hiện bản thân, khẳng định vị thế bạn bè và giải tỏa các ức chế học tập. Hơn nữa, điều kiện kinh tế - xã hội tại khu vực Quận 8 với nhiều gia đình lao động nhập cư bận rộn mưu sinh, thiếu sự kiểm soát chặt chẽ việc sử dụng điện thoại thông minh đã tạo kẽ hở cho thói quen thức khuya lướt mạng hình thành. Nhiều học sinh trùm chăn lướt Facebook đến 2-3 giờ sáng, dẫn đến tình trạng kiệt quệ thể chất, mất ngủ, giảm khả năng tập trung và suy giảm trí nhớ trong các giờ học chính khóa.

Kết quả này hoàn toàn tương đồng với phát hiện của Phó Giáo sư Alberto Posso (2016, Đại học RMIT) công bố trên tạp chí International Journal of Communication khi khảo sát 12.000 học sinh 15 tuổi tại Úc: những học sinh sử dụng Facebook hàng ngày có điểm số môn Toán, Đọc và Khoa học tụt hậu tới 20 điểm so với nhóm không lạm dụng. Nghiên cứu cũng củng cố kết luận của Tiến sĩ Ethan Kross (2013, Đại học Michigan) và Mai-Ly Steers (Đại học Houston) về việc so sánh xã hội trên mạng gây trầm cảm, lo âu và suy giảm cảm giác hạnh phúc.

Thực nghiệm áp dụng phương pháp công tác xã hội nhóm với 6 đến 8 học sinh có học lực yếu kém tại trường THPT Tạ Quang Bửu đã chứng minh: thông qua các buổi sinh hoạt chuyên đề, xây dựng nhóm tương trợ đồng đẳng và rèn luyện kỹ năng quản lý thời gian, các thành viên đã nhận thức sâu sắc tác hại, cam kết giảm trên 50% thời lượng trực tuyến vô bổ và có sự bứt phá rõ nét về điểm số trong học kỳ tiếp theo.

Đề xuất và khuyến nghị

Để giải quyết căn cơ vấn đề và nhân rộng hiệu quả can thiệp, nghiên cứu đưa ra 4 nhóm giải pháp mang tính hành động cao:

  • Thành lập Phòng Tham vấn học đường và bố trí nhân viên công tác xã hội chuyên trách:
    • Hành động: Ban Giám hiệu trường Trung học phổ thông Tạ Quang Bửu phối hợp cùng Sở Giáo dục và Đào tạo Thành phố Hồ Chí Minh thiết lập phòng tham vấn tâm lý học đường đạt chuẩn, tuyển dụng tối thiểu 1 nhân viên công tác xã hội chuyên nghiệp.
    • Chỉ số mục tiêu: Đạt 100% học sinh có dấu hiệu sa sút học lực và khủng hoảng tâm lý được tiếp cận dịch vụ tham vấn, sàng lọc định kỳ.
    • Thời gian thực hiện: Hoàn thành trong năm học 2018 – 2019.
  • Triển khai chương trình giáo dục kỹ năng số và quản lý thời gian:
    • Hành động: Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh phối hợp với Tổ Giám thị tổ chức các buổi chuyên đề ngoại khóa, tập huấn kỹ năng quản trị bản thân, phương pháp sử dụng Facebook phục vụ học tập thay vì giải trí thụ động.
    • Chỉ số mục tiêu: Giúp trên 80% học sinh toàn trường kiểm soát thời lượng lướt mạng giải trí dưới 2 giờ mỗi ngày.
    • Thời gian thực hiện: Định kỳ vào đầu mỗi học kỳ hàng năm.
  • Tăng cường cơ chế phối hợp ba môi trường Gia đình - Nhà trường - Xã hội:
    • Hành động: Giáo viên chủ nhiệm thiết lập kênh liên lạc thường xuyên qua sổ liên lạc điện tử và họp phụ huynh định đề; hướng dẫn cha mẹ học sinh phương pháp đồng hành, quản lý thiết bị thông minh tại nhà mà không gây xung đột tâm lý.
    • Chỉ số mục tiêu: Đạt 95% phụ huynh nắm bắt được thời gian biểu và chuyển biến học tập của con em.
    • Thời gian thực hiện: Duy trì liên tục hàng tháng trong suốt năm học.
  • Chuẩn hóa và nhân rộng mô hình Công tác xã hội nhóm trong nhà trường:
    • Hành động: Ứng dụng quy trình 4 giai đoạn can thiệp nhóm để thành lập các nhóm hỗ trợ đồng đẳng từ 6 đến 8 học sinh có kết quả học tập dưới 5,0 điểm do ảnh hưởng của mạng xã hội.
    • Chỉ số mục tiêu: Nâng điểm trung bình của 90% học sinh tham gia nhóm lên mức trên 6,0 điểm sau 1 học kỳ can thiệp.
    • Thời gian thực hiện: Áp dụng thử nghiệm từ tháng 10/2018 và nhân rộng toàn trường từ năm 2019.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn cao, đặc biệt hữu ích cho 4 nhóm đối tượng sau:

  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và sinh viên ngành Công tác xã hội, Tâm lý học, Xã hội học: Tài liệu cung cấp cơ sở lý luận vững chắc, dữ liệu thực chứng và quy trình can thiệp nhóm chuẩn mực, làm tài liệu tham khảo cho các đề tài nghiên cứu về công tác xã hội học đường và can thiệp hành vi thanh thiếu niên.
  • Cán bộ quản lý giáo dục và Ban Giám hiệu các trường Trung học phổ thông: Giúp các nhà quản lý có cái nhìn toàn diện về tác động của không gian mạng tới chất lượng dạy học, từ đó hoạch định chính sách quản lý học sinh, xây dựng nội quy sử dụng công nghệ và thành lập bộ phận tham vấn học đường hiệu quả.
  • Giáo viên chủ nhiệm và chuyên viên tư vấn tâm lý học đường: Cung cấp bộ công cụ nhận diện học sinh có nguy cơ nghiện mạng xã hội, bảng hỏi thang đo BFAS và kỹ năng điều phối nhóm để trực tiếp can thiệp, trợ giúp học sinh có học lực yếu kém vươn lên trong học tập.
  • Các bậc phụ huynh có con trong độ tuổi 15 đến 18: Giúp cha mẹ thấu hiểu tâm lý lứa tuổi vị thành niên theo tháp nhu cầu Maslow, nhận diện các biểu hiện thức khuya lướt mạng và nắm vững phương pháp tương tác tích cực để định hướng con sử dụng công nghệ lành mạnh.

Câu hỏi thường gặp

  • Tỷ lệ học sinh trung học phổ thông sử dụng Facebook trong nghiên cứu thực tế là bao nhiêu? Khảo sát trên 240 học sinh tại trường Trung học phổ thông Tạ Quang Bửu cho thấy có tới 97,5% học sinh đang sử dụng Facebook thường xuyên. Tỷ lệ này tương đồng với các báo cáo xã hội học tại Thành phố Hồ Chí Minh ghi nhận 97,6% thanh thiếu niên từ 15 đến 18 tuổi sở hữu tài khoản mạng xã hội.
  • Những dấu hiệu nào cho thấy học sinh đang bị Facebook tác động tiêu cực đến học tập? Học sinh thường xuyên truy cập mạng trên 5 giờ mỗi ngày, có thói quen lướt mạng ban đêm sau 22 giờ (chiếm 36,7% thường xuyên và 30,4% rất thường xuyên). Hệ quả trực tiếp là tình trạng mệt mỏi, ngủ gật trong lớp, không hoàn thành bài tập về nhà và điểm số học kỳ sút giảm xuống dưới mức 5,0 điểm.
  • Tại sao phương pháp công tác xã hội nhóm lại tối ưu hơn việc xử lý kỷ luật đơn thuần? Xử lý kỷ luật chỉ mang tính răn đe tạm thời, trong khi công tác xã hội nhóm tạo môi trường an toàn dựa trên thuyết hệ thống và tương tác đồng đẳng. Các em có chung hoàn cảnh được lắng nghe, thấu cảm, cùng chia sẻ giải pháp và cam kết thay đổi hành vi một cách tự nguyện, bền vững.
  • Nghiên cứu sử dụng thang đo chuẩn hóa nào để đánh giá tình trạng lạm dụng mạng xã hội? Luận văn sử dụng Thang đo nghiện Facebook Bergen (BFAS) gồm 6 chỉ báo hành vi do Tiến sĩ Cecilie Schou Andreassen xây dựng. Thang đo được kiểm định qua phần mềm SPSS 13.0 với hệ số Cronbach's Alpha đạt từ 0,800 đến 0,849, đảm bảo độ tin cậy và tính nhất quán nội tại rất cao.
  • Tiến trình can thiệp công tác xã hội nhóm trong trường học gồm những giai đoạn nào? Tiến trình được chuẩn hóa qua 4 bước: Giai đoạn 1 chuẩn bị và thành lập nhóm (chọn 6-8 học sinh); Giai đoạn 2 khảo sát, đánh giá nhu cầu và thiết lập mục tiêu; Giai đoạn 3 thực hiện các hoạt động can thiệp, rèn luyện kỹ năng; Giai đoạn 4 lượng giá sự tiến bộ, đánh giá kết quả và kết thúc nhóm.

Kết luận

  • Nghiên cứu đã phản ánh trung thực thực trạng 97,5% học sinh trường THPT Tạ Quang Bửu sử dụng Facebook, trong đó hơn 50% học sinh lướt mạng từ 2 đến trên 5 giờ mỗi ngày, đặc biệt là vào ban đêm.
  • Khẳng định mối tương quan thuận giữa việc lạm dụng mạng xã hội không kiểm soát và sự sút giảm học lực (chiếm 13,33% tỷ lệ học sinh yếu kém toàn trường năm học 2017 – 2018).
  • Ứng dụng thành công hệ thống lý thuyết Maslow, Thuyết Hệ thống và Tâm lý năng động vào việc giải mã hành vi của học sinh lứa tuổi 15 – 18.
  • Chứng minh tính hiệu quả vượt trội của mô hình can thiệp Công tác xã hội nhóm 4 giai đoạn trong việc hỗ trợ học sinh yếu kém phục hồi chức năng xã hội và cải thiện điểm số.
  • Đề xuất hệ thống 4 giải pháp đồng bộ gắn liền với việc thành lập phòng tham vấn học đường và xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành Gia đình - Nhà trường.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là mở ra hướng tiếp cận thực hành công tác xã hội học đường tại Việt Nam, biến các lý thuyết can thiệp nhóm trừu tượng thành quy trình hành động cụ thể, giải quyết triệt để vấn đề xao nhãng học tập do mạng xã hội.

Kế hoạch trong giai đoạn tiếp theo cần tập trung chuẩn hóa tài liệu tập huấn công tác xã hội nhóm cho đội ngũ giáo viên chủ nhiệm và mở rộng khảo sát trên các địa bàn trường học khác thuộc Thành phố Hồ Chí Minh từ năm học 2019 – 2020.

Các cơ sở giáo dục, nhà quản lý và quý phụ huynh hãy chủ động phối hợp cùng các chuyên viên công tác xã hội xây dựng môi trường học đường an toàn, lành mạnh, biến không gian số thành công cụ đắc lực hỗ trợ học sinh học tập và phát triển toàn diện.