Chương 1 tác giả trình bày cơ sở lý luận, các khái niệm xung quanh vấn đề về môi trường, ô nhiễm môi trường, xung đột môi trường, tổng quan về xung đột môi trường, các dạng về xung đột môi trường, tổng quan về hoạt động khai thác các mỏi đá và các chính sách đối với xung đột môi trường trong nước và trên thế giới. Tổng quan về xung đột môi trƣờng 1. Khái niệm về môi trường Môi trường có rất nhiều yếu tố cấu tạo thành như yếu tố tự nhiên, yếu tố xã hội chính vì vậy khái niệm về môi trường cũng có nhiều quan điểm tiếp cận khác nhau, có thể nêu ra một vài khái niệm như sau: Khái niệm “môi trường” dưới tiếp cận hệ thống (Giáo trình Lý thuyết hệ thống - Vũ Cao Đàm), có thể coi “Môi trường là tập hợp các phần tử nằm ngoài hệ thống được xem xét và có tương tác với hệ thống được xem xét” [29]. Theo Luật bảo vệ môi trường năm 2005: “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất, nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật” [20].
Môi trường sống của con người theo nghĩa rộng là tất cả các yếu tố tự nhiên và xã hội cần thiết cho sự sinh sống, sản xuất của con người như tài nguyên thiên nhiên, không khí, đất, nước, ánh sáng, cảnh quan, quan hệ xã hội. Theo nghĩa hẹp thì môi trường sống của con người chỉ bao gồm các yếu tố tự nhiên và các yếu tố xã hội liên quan trực tiếp đến chất lượng cuộc sống của con người. Như vậy, có thể xem môi trường sống của con người bao gồm môi trường tự nhiên và môi trường xã hội. Môi trường tự nhiên: bao gồm các thành phần của tự nhiên như địa hình, địa chất, đất đai, khí hậu, nước, sinh vật… 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Môi trường xã hội: là tổng thể các mối quan hệ giữa con người với con người, định hướng hoạt động của con người theo khuôn khổ nhất định, tạo thuận lợi cho sự phát triển, làm cho cuộc sống của con người khác với các sinh vật khác.
Môi trường xã hội được thể hiện cụ thể bằng các luật lệ, thể chế, quy định. Ngoài ra, người ta còn phân biệt khái niệm môi trường nhân tạo bao gồm tất cả các yếu tố do con người tạo ra và chịu sự chi phối của con người như: nhà ở, đường xá, các phương tiện đi lại, công viên… Các loại môi trường trên luôn tồn tại cùng nhau và có mối quan hệ tương tác chặt chẽ với nhau và có ảnh hưởng lớn đối với sự tồn tại và phát triển của con người. Đối với từng cá thể con người cũng như toàn thể nhân loại, môi trường có ý nghĩa vô cùng quan trọng bởi những chức năng đặc biệt của nó. Xét một cách khái quát, nói đến chức năng, tính hữu ích của môi trường, có thể kể đến ba chức năng chính sau đây: + Môi trường là không gian sinh tồn của con người.
Giống như mọi sinh vật khác, để tồn tại và phát triển về mặt sinh lý, tâm lý và tinh thần con người cần có một không gian sống với những yêu cầu nhất định về chất và lượng của nó. Môi trường trước hết chính là không gian sống đó, là yếu tố có ý nghĩa quyết định cho sự tồn tại của con người. Đó là một chức năng hết sức quan trọng của môi trường đối với sự tồn tại và phát triển của con người. + Môi trường là nơi cung cấp nguồn tài nguyên, kể cả vật liệu, năng lượng, thông tin cần thiết cho cuộc sống và hoạt động của con người.
Thiếu đi những yếu tố này, con người khó có thể tiến hành bất kỳ một hoạt động nào cho sự phát triển của chính mình. Nói cách khác, thiếu đi những thuận lợi về tài nguyên thiên nhiên, con người sẽ phải đối mặt với những khó khăn lớn cho sự phát triển của chính mình. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com + Môi trường là nơi chứa đựng và xử lý chất thải do con người tạo ra trong cuộc sống và hoạt động sản xuất của mình. Một điều rất dễ nhận thấy là trong quá trình sinh tồn, con người không chỉ khai thác những nguồn lợi thiên nhiên xung quanh mình mà còn phải bỏ rất nhiều loại chất thải khác nhau vào môi trường.
Môi trường, bằng khả năng tự điều chỉnh vốn có của mình, không chỉ chứa đựng mà còn có thể tự đồng hoá một lượng chất thải nhất định để đảm bảo sự cân bằng tự nhiên của chính nó. Vì thế, trong một giới hạn nhất định, con người có thể thải bỏ các chất thải vào môi trường mà không làm ảnh hưởng xấu đến chất lượng không gian sống của mình. Từ những lý do cần thiết về môi trường nêu trên trên cơ sở nghiên cứu và triển khai luận văn này tác giả chọn khái niệm môi trường theo chức năng. Đây là một trong các tiêu chí để đánh giá xung đột môi trường ngay cả khi xung đột còn tiềm ẩn.
Dựa trên các tiêu chuẩn quốc gia quy định, khi một trong các chức năng của môi trường bị khai thác quá mức sẽ dẫn đến mất cân bằng về môi trường, chất lượng môi trường không đảm bảo, tài nguyên có thể tái tạo ít hơn lượng tài nguyên đã sử dụng, tài nguyên khai thác lớn hơn lượng thay thế, chất thải ra môi trường lớn hơn lượng chất thải tái sử dụng hoặc phân hủy tự nhiên thì sẽ dẫn đến ô nhiễm môi trường và xung đột môi trường xảy ra một cách trầm trọng. Ô nhiễm môi trường Là một vấn đề nóng bỏng, gây bức xúc trong dư luận xã hội cả nước hiện nay là tình trạng ô nhiễm môi trường sinh thái do các hoạt động sản xuất và sinh hoạt của con người gây ra,và một mặt do tệ nạn khai thác khoáng sản bừa bãi, thải các chất thải và khói bụi ra môi trường làm gây ô nhiễm môi trường không khí, nguồn nước và môi trường sinh hoạt của người dân. Vấn đề này ngày càng trầm trọng, đe doạ trực tiếp sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững, sự tồn tại, phát triển của các thế hệ hiện tại và tương lai. Giải quyết vấn 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đề ô nhiễm môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) hiện nay không chỉ là đòi hỏi cấp thiết đối với các cấp quản lí, các doanh nghiệp mà đó còn là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và của toàn xã hội.
Trong những năm đầu thực hiện đường lối đổi mới, vì tập trung ưu tiên phát triển kinh tế và cũng một phần do nhận thức hạn chế nên việc gắn phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường chưa chú trọng đúng mức. Tình trạng tách rời công tác bảo vệ môi trường với sự phát triển kinh tế - xã hội diễn ra phổ biến ở nhiều ngành, nhiều cấp, dẫn đến tình trạng gây ô nhiễm môi trường diễn ra phổ biến và ngày càng nghiêm trọng. Đối tượng gây ô nhiễm môi trường chủ yếu là hoạt động sản xuất của nhà máy trong các khu công nghiệp, hoạt động làng nghề và sinh hoạt tại các đô thị lớn. Ô nhiễm môi trường bao gồm 3 loại chính là: Ô nhiễm đất, ô nhiễm nước và ô nhiễm không khí.
Trong ba loại ô nhiễm đó thì ô nhiễm không khí tại các đô thị lớn, khu công nghiệp và làng nghề là nghiêm trọng nhất, mức độ ô nhiễm vượt nhiều lần tiêu chuẩn cho phép. Cùng với sự ra đời ồ ạt các khu, cụm, điểm công nghiệp, các làng nghề thủ công truyền thống cũng có sự phục hồi và phát triển mạnh mẽ. Việc phát triển các làng nghề có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội và giải quyết việc làm ở các địa phương. Tuy nhiên, hậu quả về môi trường do các hoạt động sản xuất làng nghề đưa lại cũng ngày càng nghiêm trọng.
Tình trạng ô nhiễm không khí, chủ yếu là do nhiên liệu sử dụng trong các làng nghề là than, lượng bụi và khí CO, CO2, SO2 và Nox thải ra trong quá trình sản xuất khá cao. Theo thống kê của Hiệp hội Làng nghề Việt Nam, hiện nay cả nước có 2.790 làng nghề, trong đó có 240 làng nghề truyền thống, đang giải quyết việc làm cho khoảng 11 triệu lao động, bao gồm cả lao động thường xuyên và lao động không thường xuyên. Các làng nghề được phân bố rộng khắp cả nước, trong đó các khu vực tập trung phát triển nhất là đồng 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com bằng sông Hồng, Bắc Trung Bộ, Tây Bắc Bộ, đồng bằng sông Cửu Long. Riêng ở đồng bằng sông Hồng có 866 làng nghề, chiếm 42,9% cả nước.
Hình thức các đơn vị sản xuất của làng nghề rất đa dạng, có thể là gia đình, hợp tác xã hoặc doanh nghiệp. Tuy nhiên, do sản xuất mang tính tự phát, sử dụng công nghệ thủ công lạc hậu, chắp vá, mặt bằng sản xuất chật chội, việc đầu tư xây dựng hệ thống xử lý nước thải ít được quan tâm, ý thức bảo vệ môi trường sinh thái của người dân làng nghề còn kém, bên cạnh đó lại thiếu một cơ chế quản lý, giám sát của các cơ quan chức năng của Nhà nước, chưa có những chế tài đủ mạnh đối với những hộ làm nghề thủ công gây ô nhiễm môi trường và cũng chưa kiên quyết loại bỏ những làng nghề gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, nên tình trạng ô nhiễm môi trường tại các làng nghề ngày càng trầm trọng và hiện nay đã ở mức “báo động đỏ”. Hoạt động gây ô nhiễm môi trường sinh thái tại các làng nghề không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống, sinh hoạt và sức khoẻ của những người dân làng nghề mà còn ảnh hưởng đến cả những người dân sống ở vùng lân cận, gây phản ứng quyết liệt của bộ phận dân cư này, làm nảy sinh các xung đột xã hội gay gắt. Bên cạnh các khu công nghiệp và các làng nghề gây ô nhiễm môi trường, tại các đô thị lớn, tình trạng ô nhiễm cũng ở mức báo động.
Đó là các ô nhiễm về nước thải, rác thải sinh hoạt, rác thải y tế, không khí, tiếng ồn. Những năm gần đây, dân số ở các đô thị tăng nhanh khiến hệ thống cấp thoát nước không đáp ứng nổi và xuống cấp nhanh chóng. Nước thải, rác thải sinh hoạt (vô cơ và hữu cơ) ở đô thị hầu hết đều trực tiếp xả ra môi trường mà không có bất kỳ một biện pháp xử lí nào ngoài việc vận chuyển đến bãi chôn lấp.