CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ BẰNG PHƯƠNG THỨC TRỰC TUYẾN 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của giải quyết vụ án dân sự bằng phương thức trực tuyến 1. Khái niệm giải quyết vụ án dân sự bằng phương thức trực tuyến Giải quyết vụ án dân sự (“VADS”) bằng phương thức trực tuyến hiện nay vẫn còn là một khái niệm mới trong nghiên cứu khoa học pháp lý Việt Nam. Chính vì vậy, khái niệm này cần được tiếp cận theo hướng phân tích từng thành phần bên trong để làm sáng tỏ nội hàm của nó.
Về “vụ án dân sự”, thuật ngữ “vụ án” lần đầu tiên được chính thức sử dụng trong các văn bản pháp luật Việt Nam trên cơ sở Hiến pháp 1959 và Điều 1 Luật tổ chức Tòa án nhân dân 1960 “Tòa án nhân dân xét xử những vụ án hình sự và dân 6 sự…”. Trong giai đoạn từ năm 1960 đến trước năm 1989, thuật ngữ “việc kiện dân sự”, “tranh chấp dân sự”, “vụ án dân sự” được sử dụng đồng thời với ý nghĩa chỉ những loại việc thuộc thẩm quyền giải quyết về dân sự của Tòa án nhân dân (“TAND”). Khi Pháp lệnh số 27-LCT/HĐNN8 của Hội đồng Nhà nước ngày 07/12/1989 về thủ tục giải quyết các vụ án dân sự ban hành, thuật ngữ “vụ án dân sự” mới được sử dụng thống nhất, dùng để chỉ những tranh chấp hay yêu cầu liên quan đến tài sản, nhân thân trong quan hệ dân sự, hôn nhân gia đình và lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án (Điều 10). Tuy nhiên, nội hàm này sau đó đã bị thu hẹp đáng kể khi Pháp lệnh số 31-L/CTN của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành ngày 29/3/1994 về Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế và Pháp lệnh số 48-L/CTN của Ủy ban Thường vụ Quốc hội được ban hành ngày 11/4/1996 về thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động đã loại trừ những tranh chấp kinh tế và lao động ra khỏi cách hiểu nêu trên.
Sau này, khi Bộ luật Tố tụng dân sự (“BLTTDS”) năm 2004 ra đời và BLTTDS năm 2015 kế thừa cho đến nay, VADS đã được định 6 Những vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án trước năm 1945 gồm hai loại: Việc hình và việc hộ. Trong đó, việc hộ được hiểu là “các việc về dân sự và thương sự” (theo Điều 3, Điều 17 Sắc lệnh số 13-SL của Chủ tịch nước ngày 24/01/1946 về tổ chức các Toà án và các ngạch thẩm phán). Điều 9 Sắc lệnh số 85- SL của Chủ tịch nước ngày 22/5/1950 về cải cách bộ máy Tư pháp và Luật Tố tụng sử dụng thuật ngữ “việc kiện dân sự”, cũng có thể được gọi là “vụ kiện dân sự”, để chỉ những tranh chấp dân sự có yêu cầu được Tòa án giải quyết (“việc” và “vụ” trong trường hợp này là tương đồng). Lê Thu Hà (2006), Bình luận khoa học một số vấn đề của pháp luật Tố tụng dân sự và thực tiễn áp dụng, Nxb.
11 nghĩa lại với nội hàm đầy đủ. Theo đó, tại Điều 1 BLTTDS năm 2004 và Điều 1 BLTTDS năm 2015 đều có nội dung: “Bộ luật tố tụng dân sự quy định… trình tự, thủ tục khởi kiện để Toà án giải quyết các vụ án về tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (sau đây gọi chung là vụ án dân sự)”. Quy định này không chỉ liệt kê các loại VADS thuộc thẩm quyền của TAND mà còn cho thấy rõ các đặc trưng quan trọng của VADS: (i) Có sự tranh chấp hay sự bất đồng, xung đột, mâu thuẫn về quyền lợi và nghĩa vụ giữa các chủ thể tham gia vào 7 quan hệ pháp luật ; (ii) Có hành vi khởi kiện ra Tòa án nhằm yêu cầu giải quyết tranh chấp; (iii) TAND có thẩm quyền thụ lý đơn khởi kiện để chấp nhận giải quyết. Như vậy, mặc dù BLTTDS không trực tiếp đưa ra định nghĩa cụ thể cho thuật ngữ VADS nhưng có thể hiểu một cách ngắn gọn thông qua quy định trên như sau: VADS là các tranh chấp phát sinh từ các quan hệ pháp luật dân sự theo nghĩa rộng (gồm dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động) được cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết và đã được Tòa án thụ lý.
Về “giải quyết VADS”, thuật ngữ “giải quyết” trong tố tụng nói chung và “giải quyết VADS” nói riêng không có định nghĩa pháp lý cụ thể mặc dù được sử dụng phổ biến. Nguyên nhân có thể do các công trình nghiên cứu khoa học hiện nay thường tập trung vào khai thác các vấn đề cụ thể, chuyên sâu trong trình tự, thủ tục tố tụng dân sự nên không đưa ra nội hàm cho khái niệm này vì nó mang tính bao quát, chung chung. “Giải quyết” theo nghĩa thông thường được hiểu là “làm cho đạt 8 được kết quả, không còn là khó khăn, trở ngại nữa”. Như đã phân tích ở trên, VADS là những tranh chấp về quyền, lợi ích giữa các đương sự trong lĩnh vực dân sự (hiểu theo nghĩa rộng) mà các bên vì không thể tự mình giàn xếp, hòa giải đã khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân danh quyền lực Nhà nước bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ bằng một quyết định hay bản án, được Tòa án thụ lý.
Do đó, dựa vào những lập luận này, cùng với việc căn cứ vào nội dung quy định tại Phần thứ hai, Phần thứ ba và Phần thứ tư của BLTTDS, giải quyết ở đây có thể hiểu là Tòa án bằng việc thực hiện các trình tự, thủ tục luật định về tố tụng dân sự để giúp các bên đương sự đạt được mong muốn chấm dứt tranh chấp, quyền và lợi ích hợp pháp của họ được bảo đảm. 7 Nguyễn Văn Tiến và Bành Quốc Tuấn (2011), Thẩm quyền giải quyết các vụ tranh chấp dân sự có yếu tố nước ngoài và việc bảo vệ quyền dân sự tại cơ quan tư pháp Việt Nam, Nxb. Lao động, tr. 8 Trung tâm Từ điển học (2011), Từ điển tiếng Việt, Nxb.
12 Tóm lại, giải quyết VADS là tổng hợp các hành vi tố tụng của Tòa án, đương sự và các chủ thể khác theo trình tự, thủ tục mà pháp luật tố tụng dân sự quy định, gồm hai giai đoạn sơ thẩm và phúc thẩm (nếu có kháng cáo, kháng nghị), từ nộp đơn khởi kiện cho đến khi Tòa án ban hành quyết định hoặc bản án, làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt các quan hệ pháp luật nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự trong tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại, lao động. Do đó, việc giải quyết VADS phải được thực hiện theo những quy định mang tính bắt buộc do cơ quan nhà nước ban hành, đảm bảo tính công khai, ổn định và gắn liền với yếu tố trình tự, thời gian. Trong giải quyết VADS, xét xử đóng vai trò hạt nhân quan trọng. Bởi lẽ, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về cải cách tư pháp đến năm 2020 đã xác định trong hệ thống các cơ quan tư pháp, “Toà án có vị trí trung tâm và xét xử là hoạt động trọng tâm”.
Vai trò và vị trí trung tâm của thủ tục xét xử được giải thích trước hết bởi tính pháp lý cao so với các phương thức khác dùng để giải quyết 9 tranh chấp, mâu thuẫn lợi ích: Đây là thủ tục công khai, dễ hiểu, dân chủ. Toàn bộ những yếu tố như sự độc lập của người xét xử; thủ tục được quy định công khai, được bảo đảm để các bên phản ánh hết ý kiến của mình với Tòa án một cách trực tiếp, được tiến hành dưới sự giám sát của Viện kiểm sát, của các luật sư, của nhân dân… đã làm 10 cho Tòa án và thủ tục xét xử là một giá trị không gì có thể thay thế được. Tùy vào tranh chấp, mâu thuẫn lợi ích phát sinh giữa từ hai chủ thể trở lên thuộc lĩnh vực nào mà thủ tục xét xử mang những đặc thù, nguyên tắc, mục đích nhất định. Riêng đối với tố tụng dân sự, thủ tục xét xử là hoạt động Tòa án nhân danh quyền lực Nhà nước xem xét, đánh giá và ra phán quyết nhằm bảo vệ lợi ích hợp pháp và chính đáng của đương sự trong tranh chấp dân sự (nghĩa rộng).
Và tùy thuộc vào tính chất của thủ tục xét xử vụ án mà việc xét xử của Tòa án diễn ra ở các cấp xét xử khác nhau (sơ thẩm hoặc phúc thẩm) cũng có những đặc thù mang tính chất pháp lý khác nhau. Về “phương thức trực tuyến”, thuật ngữ này hiện nay bắt đầu được sử dụng tương đối phổ biến, nhưng chủ yếu với ý nghĩa bổ sung cho thuật ngữ “xét xử” hoặc 9 Đỗ Đức Hồng Hà và Lê Quang Hậu, “Xét xử trực tuyến – giải pháp quan trọng thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác xét xử trong đại dịch toàn cầu Covid-19”, http://hdll.vn/vi/nghien-cuu---trao-doi/xet-xu-truc-tuyen---giai-phap-quan-trong-thuc-hien-chu- truong-duong-loi-cua-dang-chinh-sach-phap-luat-cua-nha-nuoc-ve-cong-tac-xet-xu-trong-dai-dich-toan-cau- covid-19. 10 Đào Trí Úc và Nguyễn Thu Trang, “Vai trò của hoạt động xét xử của tòa án trong quá trình phát triển hệ thống pháp luật Việt Nam”, http://lapphap.vn/Pages/tintuc/tinchitiet.aspx?tintucid=208193, ngày 01/10/2021. 13 “phiên tòa/phiên điều trần”.
Tuy nhiên, cách hiểu của “trực tuyến” trong “xét xử trực tuyến” hay “phiên tòa trực tuyến” có độ chênh nhất định so với nội hàm cụm từ này trong “giải quyết VADS bằng phương thức trực tuyến”, cần được phân biệt làm rõ. Phiên tòa trực tuyến được khoản 2 Điều 1 Nghị quyết số 33/2021/QH15 của Quốc Hội ngày 12/11/2021 về tổ chức phiên tòa trực tuyến (“Nghị quyết số 33/2021/QH15”) định nghĩa là “phiên tòa được tổ chức tại phòng xử án, có sử dụng các thiết bị điện tử kết nối với nhau thông qua môi trường mạng, cho phép bị cáo, bị hại, đương sự, người tham gia tố tụng khác tham gia phiên tòa tại địa điểm ngoài phòng xử án do Tòa án quyết định nhưng vẫn bảo đảm trực tiếp theo dõi đầy đủ hình ảnh, âm thanh và tham gia các trình tự, thủ tục tố tụng của phiên tòa bằng lời nói, hành vi tố tụng liên tục, công khai, vào cùng một thời điểm.” Định nghĩa này tương thích với cách hiểu về thuật ngữ “phiên điều trần trực tuyến” hay “phiên tòa 11 trực tuyến” theo quan điểm quốc tế. Trong đó, thuật ngữ “trực tuyến” theo quan điểm của tác giả là sự lựa chọn hợp lý nhất so với nhiều thuật ngữ khác như “ảo” 12 13 (virtual) hay “từ xa” (remote) (vốn vẫn được sử dụng ở nhiều tài liệu hiện nay), bởi nó lột tả được cả phương tiện tiến hành lẫn tính chất đặc trưng của mô hình.